phần mở đầu và kết luận, gồm 2 chương, 6 tiết. lao động có thể khai phá, cải tạo đất, làm cho đất màu mỡ hơn, thuận tiện hơn trong việc sử dụng vào các hoạt động kinh tế, xã hội song lao động không thể tạo ra đất. Nhưng trong kinh tế thị trường đất cũng được mua bán như một hàng hoá, nên cũng có giá cả, và được coi như cũng có giá trị. Tuy nhiên cách quy định giá cả và giá trị của đất cũng khác với cách quy định giá trị của hàng hoá thông thường.Mác đã nhận xét: “Chính cái địa tô đã được tư bản hoá cấu thành giá mua hoặc giá trị của ruộng đất: Đó là một phạm trù prima facie (mới thoạt nhìn) thì cũng bất hợp lý như giá cả của lao động, vì đất không phải là sản phẩm của lao động và do đó không có giá trị.
Nhưng mặt khác, đằng sau cái hình thái bất hợp lý ấy, ẩn giấu một quan hệ sản xuất hiện thực” [38, tr. Ruộng đất cũng là một trong những đối tượng của sở hữu, hơn nữa lại là một đối tượng sở hữu đặc biệt. Sở hữu ruộng đất bao gồm quyền sở hữu về mặt pháp lý, quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng. Ba quyền này có thể tập trung vào một chủ thể (như người tiểu nông), nhưng cũng có thể tách riêng.
Xu hướng chung là sản xuất hàng hoá càng phát triển thì quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng ruộng đất càng tách khỏi quyền sở hữu về pháp lý. Ruộng đất có thể thuộc chế độ sở hữu công cộng (công hữu) hoặc thuộc chế độ sở hữu tư nhân (tư hữu). Không phải đến chế độ xã hội chủ nghĩa mới diễn ra việc quốc hữu hoá ruộng đất mà ngay cả ở một số nước theo chế độ phong kiến ở Châu á trước đây, và một số nước tư bản chủ nghĩa, ruộng đất cũng thuộc quyền sở hữu pháp lý của nhà nước.Mác đã chỉ rõ: “Nếu đối lập với những người sản xuất trực tiếp không phải là những kẻ sở hữu ruộng đất tư nhân mà là nhà nước, như ở Châu á, với tư cách là một kẻ sở hữu ruộng đất đồng thời là một vua chúa, thì địa tô kết hợp làm một với thuế khoá, hay nói cho đúng hơn, trong trường hợp đó, không có thuế khoá nào khác phân biệt với hình thái địa tô. ở đây, nhà nước là kẻ sở hữu ruộng đất tối cao.
Chủ quyền ở đây là quyền sở hữu ruộng đất tập trung trên phạm vi cả nước. Nhưng trong trường hợp đó lại không có quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất, mặc dù vẫn có quyền chiếm hữu ruộng đất và quyền sử dụng ruộng đất, quyền này hoặc là của tư nhân, hoặc là của cộng đồng” [38, tr. Lênin đã nhấn mạnh luận điểm của C.Mác rằng: Phương thức sản xuất tư bản chủ 5 nghĩa đã gặp (và đã khống chế được) những chế độ sở hữu ruộng đất hết sức khác nhau. Sản xuất lớn đòi hỏi việc chiếm hữu thực tế và việc sử dụng ruộng đất tập trung quy mô lớn, nhưng các doanh nghiệp tư nhân không những kinh doanh ruộng đất của mình mà còn kinh doanh ruộng đất thuê của các chủ ruộng tư nhân, của nhà nước hay của những công xã.
Vì vậy, “về mặt logic, chúng ta có thể hình dung được nền nông nghiệp tổ chức theo lối thuần túy tư bản chủ nghĩa trong đó hoàn toàn không có sở hữu tư nhân về ruộng đất, ruộng đất là sở hữu của nhà nước hay của công xã. Chủ nghĩa tư bản hoàn toàn tách ruộng đất với tư cách là tư liệu lao động khỏi quyền sở hữu ruộng đất và người sở hữu ruộng đất. Nhưng “công lao lớn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là, một mặt thì hợp lý hoá nông nghiệp, việc hợp lý hóa này lần đầu tiên đã tạo khả năng kinh doanh nông nghiệp theo phương thức xã hội, và mặt khác làm cho quyền sở hữu ruộng đất trở thành một điều phi lý” [38, tr. "Sở hữu ruộng đất khác với các hình thức sở hữu khác ở chỗ là, đến một trình độ phát triển kinh tế nhất định nó trở nên thừa và có hại, ngay cả khi xét trên quan điểm của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa" [38, tr.
Như vậy, việc nhà nước nắm quyền sở hữu pháp lý về ruộng đất, giao quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, cho các doanh nghiệp. như ở nước ta hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với xu hướng tiến bộ của sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân thì việc mua bán bao gồm việc chuyển nhượng cả 3 quyền nói trên và tồn tại địa tô tuyệt đối. Khi quốc hữu hoá ruộng đất sẽ xoá bỏ địa tô tuyệt đối và trên thị trường chỉ diễn ra việc chuyển nhượng quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng ruộng đất, nói cách khác là chỉ mua bán quyền sử dụng ruộng đất.
Giá cả ruộng đất Như đã nói ở trên, ruộng đất là một loại hàng hoá đặc biệt, nên cách xác định giá cả ruộng đất khác với giá cả hàng hoá thông thường. Giá cả ruộng đất thực chất là địa tô tư bản hoá. Quyền sở hữu ruộng đất cho phép địa chủ thu khoản chênh lệch giữa lợi nhuận cá biệt và lợi nhuận trung bình; lợi nhuận đó được đem tư bản hoá và biểu hiện thành giá cả của ruộng đất. Trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, bất cứ một khoản thu nhập nào cũng được coi như là con đẻ của một tư bản nào đấy.
Địa tô là hình thái dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập. Đó là một số tiền mà địa chủ thu được hàng năm 6 nhờ cho thuê một mảnh địa cầu, và được coi như lợi tức của một tư bản tưởng tượng.Mác, ở Anh, giá mua ruộng đất được tính theo một số nhiều ít là bao nhiêu year’s purchase (thu nhập hàng năm). Thí dụ: Tỷ suất lợi tức trung bình hiện hành là 5% thì một khoản địa tô thu được hàng năm là 200Ê (bảng Anh) có thể coi là lợi tức của một tư bản là 4000Ê; 4000Ê này cấu thành giá mua hay còn gọi là giá trị của ruộng đất. Công thức tính giá I.
* _ R 200£ X 100 4000£ cả ruộng đất = — = ----------------------= 4000£. z 5 Như vậy, một nhà tư bản bỏ ra 4000Ê để mua một khoảnh đất mang lại cho ông ta một khoản địa tô hằng năm là 200Ê, thì coi như ông ta thu được lợi tức trung bình hằng năm là 5% về số tư bản ấy, cũng giống như ông ta đầu tư vào mua chứng khoán sinh lợi tức hay trực tiếp gửi vào ngân hàng theo tỷ suất lợi tức 5%. Nhưng khoản thu nhập hằng năm từ địa tô ấy khi ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân lại rất khác so với khi ruộng đất đã được quốc hữu hoá, do đó việc hình thành giá cả ruộng đất trong hai trường hợp trên cũng không giống nhau hoàn toàn. Giá cả ruộng đất trong trường hợp ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân Trong điều kiện ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân thì tất cả những gì mà người thuê ruộng đất trả cho chủ đất, đều biểu hiện ra là địa tô cả, dù các yếu tố cấu thành của khoản cống nạp ấy như thế nào, dù nó được lấy từ nguồn nào ra thì cũng đều được coi là địa tô chính cống, đều là khoản thu nhập mà việc cho thuê ruộng đất đã mang lại và đều quyết định giá cả ruộng đất.
Địa tô bao gồm địa tô đất canh tác, đất xây dựng, hầm mỏ, ngư trường, lâm trường. Nhưng khi nghiên cứu C.Mác chỉ nghiên cứu địa tô trên đất trồng lúa mì. Vì, tất cả các loại địa tô đều theo quy luật như địa tô trong nông nghiệp. Có những yếu tố ngoại lai, về bản chất không phải là địa tô, nhưng cùng với tiến trình phát triển kinh tế, yếu tố đó lại cấu thành một khoản phụ thêm không ngừng tăng lên trong tổng số địa tô, vì được nộp cho địa chủ dưới hình thức tiền thuê ruộng, và chúng cũng có tác dụng quyết định đối với giá cả ruộng đất như địa tô thực sự vậy.
Bởi vậy, cần phân tích cụ thể phạm trù thu nhập hàng năm từ việc cho thuê ruộng đất. Thu nhập đó bao gồm: 1. Địa tô chênh lệch I Đây là lợi nhuận siêu ngạch của những người sản xuất sử dụng ruộng đất có điều kiện thuận lợi (độ mầu mỡ tốt hơn hay vị trí tiện lợi hơn). 7 Lợi nhuận siêu ngạch này bằng số chênh lệch giữa giá cả sản xuất cá biệt của những người sản xuất có những điều kiện thuận lợi hơn ấy và giá cả sản xuất chung, tức là giá cả sản xuất xã hội có tác dụng điều tiết thị trường trong toàn bộ ngành sản xuất đó; giá cả sản xuất chung này do giá cả sản xuất trong điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định.
Số chênh lệch ấy bằng số trội lên của giá cả sản xuất chung so với giá cả sản xuất cá biệt. Giá trị của hàng hoá do sử dụng ruộng đất có điều kiện thuận lợi, tương đối nhỏ hơn vì để sản xuất ra hàng hoá đó chỉ cần một số lao động nhỏ hơn. Lao động sử dụng trong trường hợp này có năng suất cao hơn; sức sản xuất của lao động này lớn hơn sức sản xuất của lao động sử dụng trong phần lớn những ruộng đất xấu hơn. Để sản xuất cùng một khối lượng hàng hoá lao động này chỉ cần một lượng tư bản bất biến nhỏ hơn, tức là một lượng lao động vật hoá ít hơn; hơn nữa nó cũng đòi hỏi một lượng lao động sống ít hơn.
Sức sản xuất cá biệt cao hơn đó làm cho chi phí sản xuất, do đó làm cho giá cả sản xuất, giảm bớt. Sở dĩ người sản xuất thu được khoản lợi nhuận siêu ngạch ấy là nhờ được sử dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi đã bị độc chiếm, cũng giống như tư bản đã độc chiếm những lực lượng xã hội tự nhiên của lao động do hiệp tác, phân công. Đây là một lực tự nhiên mà không phải bất kỳ tư bản nào trong cùng một lĩnh vực sản xuất cũng có thể chi phối được. Đây là một lực tự nhiên bị độc chiếm; tư bản không thể tạo ra điều kiện tự nhiên ấy để nâng cao sức sản xuất của lao động, như sử dụng tính đàn hồi của hơi nước chẳng hạn.