Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THU HỒI ĐẤT, GIÁ TRỊ, GIÁ NHÀ NƯỚC XÁC ĐỊNH VÀ GIÁ THỊ TRƯỜNG, NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ THỊ TRƯỜNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái quát về đất đai và giá trị đất đai Đất đai là một trong những loại tài nguyên đặc biệt có giá trị, ngoài là một tư liệu sản xuất thì nó còn đóng vai trò là nguồn lực quan trọng để phát triển nền nông nghiệp của một quốc gia nói riêng cũng như chiến lược phát triển nền kinh tế nói chung. Đối với con người, chúng ta không thể nào sống và tồn tại nếu không có đất đai, bởi vì mọi hoạt động đi lại, sống và làm việc của mỗi người đều gắn với đất đai. Theo kết quả thống kê diện tích đất của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2015 thì tính đến ngày 31/12/2015, diện tích đất tự nhiên của nước ta là 33.077 ha; trong đó đất nông nghiệp là 27.206 ha, chiếm 82,43% diện tích đất của cả nước; đất phi nông nghiệp là 3.829 ha, chiếm 11,16 % diện tích đất cả nước; đất chưa sử dụng là 2.042 ha, chiếm 6,41% diện tích đất cả nước1.
Khái niệm về đất đai Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về đất đai, cụ thể như theo quan điểm của ngành kinh tế học thì đất đai ngoài mặt đất còn bao gồm tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và trong lòng đất. Tất cả những thứ này không phải là sản phẩm do con người làm ra2. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, 1 Điều 1 Quyết định số 455/QĐ-BTNMT ngày 21/3/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2015. 2 Hồ Thị Lam Trà (2006), Giáo trình Định giá đất, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người3. Như vậy phải khẳng định, đất đai là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống. Ở nước ta, khi còn nhiều người sống nhờ vào nông nghiệp, thì đất đai càng trở thành nguồn lực quan trọng. Tuy nhiên, nếu xem đất đai là tài nguyên thì thực tế đã tạo ra sự ngộ nhận rằng, đất đai cũng giống như cá bắt dưới sông, chim thú săn trên rừng.
Hầu hết các nước đều coi đất đai là bất động sản và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất4. Cụ thể ở Thái Lan xem bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai 5. Thậm chí ở Pháp, xem mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là bất động sản, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản6. Trên bình diện pháp lý của Bộ luật Dân sự 2015 lại coi đất đai không thể là tài nguyên mà phải là tài sản7.
Đất đai trong giao lưu dân sự được hình thành bằng số liệu diện tích đất cùng vị trí của mảnh đất đó. Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua quyết định giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Những thuộc tính của tài sản đất đai đó là: nhu cầu của con người được đất đai đáp ứng, tức là có giá trị sử dụng; đất đai là đối tượng để con người trao đổi mua bán, có nghĩa là quá trình giao lưu dân sự có sự tham gia của đất đai. Do đó, đất đai được quản lý theo đúng nguyên tắc giống như quản lý tài sản.
Các quan hệ về đất đai phải được nhìn nhận và điều chỉnh với tính cách là quan hệ tài sản. Chỉ như vậy mới có cơ sở để xác lập một trật tự đất đai mới, thực sự lành mạnh, giúp phát triển kinh tế một cách bình thường, góp phần ổn định đời sống.2 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 về việc ban hành quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất. 4 Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hòa Pháp; Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản; Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga; Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức. 5 Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan.
6 Điều 520 Luật Dân sự Cộng hòa Pháp. 7 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Vì đất đai là tài sản nên quan hệ đất đai là quan hệ kinh tế, trong đó tuy nhà nước đóng vai trò đại diện chủ sở hữu nhưng không đồng thời là người sử dụng đất bởi nhà nước không đóng vai trò trung tâm trong khai thác nguồn tài nguyên đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Người sử dụng đất có nhiều thay đổi theo quá trình của Luật Đất đai, cụ thể tại Luật Đất đai 2003 quy định người sử dụng đất trong đó có đối tượng là cá nhân người nước ngoài 8 nhưng đến Luật Đất đai 2013 đã bỏ đối tượng này9.
Sự thay đổi này nhằm giảm thiểu tình trạng người nước ngoài mua của một vùng đất rộng lớn, khó quản lý về mặt hành chính, gây nên bất ổn xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay quy định này mâu thuẩn với Luật Nhà ở năm 2014, bởi do muốn mở rộng đối tượng cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu hoặc kinh doanh nhà ở gắn liền với đất ở nhằm mục tiêu giúp thị trường bất động sản ngày càng phát triển và tạo điều kiện đảm bảo cho họ đến Việt Nam sống và làm việc10. Tóm lại, có thể thấy rằng đất đai là một tài sản đặc biệt và khác biệt so với những tài sản, hàng hóa bình thường khác bởi quá trình lao động không tạo ra nó mà chỉ tác động vào nó để chuyển từ trạng thái hoang sơ trở nên có lợi ích, có khả năng sinh lợi cao. Theo một đánh giá của Ngân hàng thế giới và Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, khoảng một nửa tới 2/3 của cải của các dân tộc được gắn liền với đất đai11.
Đặc điểm và giá trị của tài sản đất đai Trước hết cần khẳng định, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều, quyền sử dụng đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất đai. Lúc này, đất đai được coi như là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt. Thị trường đất đai này có liên quan đến nhiều thị trường khác và những biến động của nó có ảnh hưởng đến đời 8 Điều 9.7 Luật Đất đai 2003. 9 Điều 5 Luật Đất đai 2013.
11 Phạm Duy Nghĩa (2014), Giải quyết tranh chấp trong thu hồi đất nông nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14/2014, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 sống người dân và sự phát triển kinh tế của quốc gia. Do không phải là một tài sản bình thường nên đất đai có những đặc điểm đặc biệt sau: Thứ nhất, về đặc điểm hình thành: đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước con người. Chúng ta không thể nào dịch chuyển được đất đai do chúng có tính bất động, trong khi các tài sản khác là kết quả lao động của con người.
Dù được đem chuyển nhượng nhưng chỉ được quyền sử dụng và khai thác, không thể chuyển bất động sản đó đến một nơi cụ thể nào khác. Thứ hai, đất đai có tính hữu hạn: bởi vì diện tích bề mặt trái đất là có hạn. Do đó, cần sử dụng đất đai một cách tiết kiệm vì nhu cầu sử dụng đất của con người là rất lớn do phải đáp ứng yêu cầu về tăng dân số. Vì vậy sử dụng tiết kiệm tài nguyên đất là một vấn đề có ý nghĩa hết sức to lớn và mang tính toàn cầu.
Thứ ba, tính không đồng nhất: cụ thể là tỉ trọng và chất lượng giữa các thửa đất là khác nhau. Mỗi bất động sản sẽ có những khác biệt về giá, giá cả gắn liền với đặc điểm riêng của từng loại bất động sản khác nhau. Giả sử hai bất động sản nằm trong cùng một khu vực nhưng giá cả của chúng phụ thuộc vào thời điểm bán như thế nào, người mua có thích hay không, tâm lý của người mua lúc đó như thế nào và đặc điểm cụ thể của bất động sản đó, tất cả những điều này chứng minh cho sự không đồng nhất đối với bất động sản và nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sẽ được trình bày cụ thể ở Mục 1. Thứ tư, đất đai có tính bền vững: tức là cho dù đem sử dụng cho mục đích nào đi nữa thì nó vẫn mang lại lợi ích cho chủ sỡ hữu.
Hơn nữa được sử dụng để hưởng quyền sở hữu đất đai và hưởng các lợi ích khác do đất đai mang lại và thời gian sử dụng lại vô hạn làm cho ý nghĩa của đất đai, bất động sản được nhân đôi. Để đất đai luôn có giá trị cao về nông nghiệp, cần phải cải tạo và bồi bổ, nếu không thì đất đai ngày càng trở nên hoang hóa. Qua đây, chúng ta khẳng định được tầm quan trọng của tài sản đất đai và có ý thức sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đó là sự đối xử công bằng với thiên nhiên và yêu cầu chung của xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phân loại đất đai Việc phân loại đất tại Điều 10 Luật Đất đai 2013 dựa vào tiêu chí về mục đích sử dụng đất để phân loại các loại đất và được phân thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Cụ thể như sau: Thứ nhất, nhóm đất nông nghiệp bao gồm đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác như các loại cây hoa màu: ngô, khoai, sắn,… và những loại cây được coi là lương thực; đất trồng cây lâu năm như dừa, cam, chanh,… Tuy nhiên việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản,…12.