chương 1, tác giả sẽ trình bày những nghiên cứu có liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các Công Ty và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Từ các nghiên cứu trước cũng như tìm hiểu của tác giả về các vấn đề đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích nhầm mục đích giảm thuế TNDN. Tác giả đã tìm được khoản trống nghiên cứu cho đề tài.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận đầu tiên tập trung vào hành vi tư lợi của các nhà quản trị Watts và Zimmerman (1978, 1979, 1980) đặt nền móng cho nghiên cứu kế toán, nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1978, 1979, 1980) cho rằng các nhà quản lý có động lực để thúc đẩy báo cáo lợi nhuận từ tương lai đến kỳ kế toán hiện hành khi một kế hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận. - Bài báo nghiên cứu của Godfrey và Jones (1990) – “Political cost influences on income smoothing via extraordinary item classification” Bài viết này bàn về việc các nhà nghiên cứu dàn đều lợi nhuận qua các năm nhằm giảm chi phí chính trị.
Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng các nhà quản lý của các công ty có lực lượng lao động mang tính đoàn kết cao, và do đó phải chịu chi phí chính trị liên quan đến lao động, đã cố gắng ảnh hưởng đến xác suất chuyển giao của cải bằng cách làm giảm lợi nhuận hoạt động ròng được báo cáo thông qua việc phân loại lãi và lỗ định kỳ đó. Mức độ sở hữu của ban quản lý có liên quan đến việc làm suôn sẻ phân loại nhưng mức độ bao phủ lãi suất thì không, cho thấy các ảnh hưởng khác nhau của hợp đồng. - Bài báo nghiên cứu Earnings management to avoid earnings decreases and losses (1997) – David Burgstahler: Bài báo này cung cấp bằng chứng cho thấy các công ty quản lý thu nhập được báo cáo để tránh giảm thu nhập và thua lỗ. Cụ thể, trong phân phối chéo của các thay đổi thu nhập, nghiên cứu cho thấy rằng tần số thấp bất thường của các khoản thu nhập giảm nhỏ và các khoản lỗ nhỏ cũng 7 như tần suất cao bất thường của các khoản tăng nhỏ trong thu nhập và thu nhập dương nhỏ.
Kết quả cho thấy hai thành phần của thu nhập, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và những thay đổi trong vốn lưu động được sử dụng để tăng thu nhập. Hai lý thuyết được sử dụng ở nghiên cứu này, Lý thuyết về các bên liên quan sử dụng kinh nghiệm xử lý thông tin và lý thuyết khách hang tiềm năng về động lực tránh thu nhập giảm và thua lỗ. - Bài báo nghiên cứu Healy, P. “A review of the earnings management literature and its implications for standard setting.
Accounting Horizons (December): 365-383” Mục đích của bài báo này là tóm tắt các phát hiện liên quan đến nghiên cứu quản lý thu nhập và tính toàn vẹn tổng thể của báo cáo tài chỉnh. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng quản lý thu nhập tồn tại và nó xảy ra vì những lý do khác nhau. Những lý do này bao gồm việc ảnh hưởng đến kỳ vọng và định giá thị trường vốn, để tăng mức bồi thường của ban quản lý, tránh vi phạm các hợp đồng được viết bằng số kế toán và để giảm chi phí quản lý. - Bài báo nghiên cứu của Naz và cộng sự (2011) - “Impact of firm size and capital structure on earning management: Evidence from Pakistan” : Bài nghiên cứu về Tác động của quy mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận (Bằng chứng từ Pakistan 2011).
Nghiên cứu này sử dujg mô hình Jones (1991) để tính cơ sở dồn tích các khoản điều chỉnh. Tổng tài sản được sử dụng làm đại diện cho quy mô Doanh Nghiệp, tỷ số đòn bẩy tài chính làm thước đo cấu trúc vốn và biến kế toán dồn tích làm đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận. Dữ liệu theo nghiên cứu này đã được kiểm tra về phương sai thay đổi và hồi quy mạnh mẽ được áp dụng để kiểm soát phương sai thay đổi, lấy các khoản dồn tích tùy ý làm các biến phụ thuộc, tỷ số truyền và tổng tài sản làm các biến độc lập. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tiêu cực đáng kể của cấu trúc vốn đến quản trị lợi nhuận.
Và cũng theo nghiên cứu này, kết luận các Doanh Nghiệp có cấu trúc vốn dựa trên nợ có các chủ nợ đóng vai trò là cơ quan giám sát đối với hoạt động quản trị lợi nhuận, tuy nhiên quy mô của Doanh Nghiệp không đáng kể. Kết quả khảo sát đã chỉ ra cấu trúc vốn có ảnh hưởng nghịch biến đối với hành vi quản trị lợi nhuận. 8 - Bài báo nghiên cứu của Soliman & Ragab (2013) – “Board of Director's Attributes and Earning Management: Evidence from Egypt”: Bài báo này xem xét vai trò của các thành viên độc lập trong hội đồng quản trị, giám đốc điều hành cũng là chủ tịch công ty (sau đây gọi là Giám đốc điều hành kiêm nhiệm), quy mô hội đồng quản trị về thực tiễn quản lý thu nhập. Sau khi kiểm soát quy mô, đòn bẩy và tăng trưởng, cho thấy các khoản dồn tích tùy ý làm đại diện cho việc quản lý thu nhập có liên quan tích cực đến sự tồn tại của tính hai mặt của CEO và liên quan tiêu cực đến quy mô hội đồng quản trị.
Ngoài ra, kiểm tra dữ liệu cho thấy tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập không liên quan đáng kể đến việc quản lý lợi nhuận. Những phát hiện của bài báo này sẽ được các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Ai Cập quan tâm. Bài báo này cũng đưa ra nhiều khuyến nghị cho các cơ quan quản lý ở Ai Cập về các cách để củng cố và tăng cường Thuộc tính của Ban Giám đốc của các công ty. - Bài báo nghiên cứu Corporate Governance, Firm Size, and Earning Management: Evidence in Indonesia Stock Exchange (2013) – Dwi Lusi Tyasing Swastika: Bài nghiên cứu khảo sát mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, bao gồm số lượng thành viên trong hội đồng quản trị, tính độc lập của các thành viên, quy mô Doanh Nghiệp và chất lượng Công Ty kiểm toán.
Tác giả đã sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường biến dồn tích. Kết quả cho thấy rằng, các biến về hội đồng quản trị có mối quan hệ thuận chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, còn biến chất luợng kiểm toán và quy mô Doanh Nghiệp có quan hệ nghịch chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. - Bài báo nghiên cứu Effect of financial leverage and investment disversification on income – increasing earnings management (2013) - Nasrollah Takhtaei et al: Bài nghiên cứu, lợi nhuận kế toán là một trong những phương pháp đo lường để đưa ra quyết định tài chính đối với nhà đầu tư và quản trị. Nhà quản lý có thể dựa vào những lý do khác nhau như yêu cầu báo cáo kiểm toán và tạo ra các điều kiện trong hợp đồng vay nợ về cách ứng xử của chủ nợ tài chính, thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ và giám đốc, đa dạng hóa đầu tư, nhằm thực 9 hiện hành vi quản trị lơi nhuận.
Kết quả cho thấy xu hướng quản trị lợi nhuận tang cùng với đòn bẩy tài chính và đa dạng hóa kênh đầu tư. - Bài báo nghiên cứu Samira Rahmani và các cộng sự (2014) – “ The Impact of Corporate and Ownership structure on Earnings Management Practices: Evidence from Listed Companies in Pakistan” Bài nghiên cứu phân tích ảnh hưởng quản trị doanh nghiệp và cơ cấu trở hữu với quản trị lợi nhuận của 372 Công Ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán karachi trong giai đoạn 2003 - 2010. Nghiên cứu đã sử dụng 4 mô hình: Jones (1991), Dechow, Sloan và Sweeney (1995), Kasznik (1999) để xác định biến dồn tích có thể điều chỉnh. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng biến dồn tích có thể điều chỉnh cùng tỷ lệ sở hữu với tỷ lệ của giám đốc Công Ty và các thành viên trong gia đình, hơn nữa nghiên cứu cũng cho thấy nhà đầu tư có vai trò quan trọng trong việc hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận.
Đồng thời nghiên cứu cũng chưa tìm ra bằng chứng nào: Giám đốc điều hành, quy mô của Công Ty kiểm toán, số lượng thành viên trong HĐQT và sự tập trung quyền sở hữu ảnh hưởng đến biến dồn tích có thể điều chỉnh. Các công ty đang phát triển, có lợi nhuận hoặc đoàn bẩy cao hơn tích cực quản trị lợi nhuận hơn, trong khi đó quản trị lợi nhuận giảm theo độ tuổi của Công Ty.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam - Bài Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) – “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các Công Ty Cổ Phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tác giả đã sử dụng dữ liệu giai đoạn 2008 -2010 của các Công Ty niêm yết trên 2 sàn chứng khoán Hà Nội và TP. Kết quả nghiên cứu Công Ty Cổ Phần có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tăng trong năm đầu niêm yết.
Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy các Công Ty hưởng thuế suất ưu đãi thuế TNDN sẽ điều chỉnh lợi nhuận trong năm đó tăng lên rất cao nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN. Tác giả đã đưa ra 3 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với Công Ty niêm yết thông qua sử dụng mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Friedlan (1994) gồm: Năm đầu tiên niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế TNDN và quy mô Doanh Nghiệp. 10 - Bài báo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2012) – “Vận dụng mô hình của DeAngelo và Friedlan để nhận dạng hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị” in trên tạp chí Đông Á số 06/2012 nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị với 4 doanh nghiệp khác nhau. Đó là Công ty Cổ Phần, Doanh Nghiệp Tư Nhân, Công Ty trách nhiệm hữu hạn và Doanh Nghiệp nhà nước.
Từ kế quả nghiên cứu cho thấy ứng với mỗi Doanh Nghiệp sẽ có các nghiên nhân điều chỉnh lợi nhuận khác nhau. Đối với các Công Ty Cổ Phần động cơ điều chỉnh tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp không phải lúc nào cũng là lựa chọn ưu tiên mà có thể động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn từ bên ngoài được ưu tiên hơn.