Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, bao gồm bối cảnh chính sách, câu hỏi chính sách, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thực hiện. Chương 2 tổng quan về tài liệu và phương pháp luận, trong đó trình bày một số phương pháp điều tra, khảo sát và ước lượng mức sẵn lòng chi trả. Chương 3 trình bày và đánh giá tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn TP. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 4 phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của TT.NSH-VSMTNT, chứng minh chính sách giá nước cũ đã hạn chế khả năng mở rộng mạng lưới cấp nước của Trung tâm; đánh giá chính sách giá nước hiện hành và tính toán giá tiêu thụ bình quân đảm bảo mở rộng mạng lưới cấp nước.
Chương 5 trình bày kết quả ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn, đề xuất và đánh giá tính khả thi của chính sách giá nước mới. Chương 6 kết hợp những phân tích, đánh giá từ các chương trước để khuyến nghị về chính sách giá nước. Cuối cùng là kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.
20 Các nghiên cứu trước về ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch Trên thế giới, vấn đề giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên nói chung và nước sạch nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu. Trong đó Dale Whittington, giáo sư Đại học Bắc Carolina là một trong những tác giả nổi tiếng và được trích dẫn phổ biến trong nhiều nghiên cứu về giá trị kinh tế của nước. Ông có nhiều nghiên cứu về nước sạch tại nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển ở Châu Á, dùng các phương pháp định giá ngẫu nhiên (contingent valuation), mô hình chọn lựa rời rạc (discrete choice model) … để ước lượng nhu cầu, mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch hoặc đối với việc cải thiện tình hình sử dụng nước … Nghiên cứu về giá trị kinh tế của nước sạch tại Việt Nam đến nay chưa nhiều, chủ yếu do các tổ chức quốc tế tài trợ và viết bằng tiếng Anh, chưa có nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả đối với nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn TP. Nghiên cứu gần đây về mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch ở TP.HCM là nghiên cứu Household Demand for Improved Water Services in Ho Chi Minh City: A Comparison of Contingent Valuation and Choice Modeling Estimates do hai tác giả Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn cùng thực hiện vào năm 2005.
Nghiên cứu này đã áp dụng hai phương pháp (định giá ngẫu nhiên và mô hình chọn lựa) để đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với việc cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt (cụ thể là tăng áp lực và chất lượng nước), nghiên cứu trên hai đối tượng: những hộ đã và chưa kết nối với đường ống nước. Kết quả là đối với phương pháp định giá ngẫu nhiên, trung bình mỗi hộ sẵn lòng chi trả lần lượt 108.000 đồng/tháng và 94.000 đồng/tháng đối với hộ đã có kết nối và hộ chưa có kết nối (giá trị trung vị lần lượt là 148.000 đồng/tháng và 154.000 đồng/tháng) 10. 9 10 Pham Khanh Nam and Tran Vo Hung Son (2005) [37] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. 21 Cơ sở lý thuyết về ước lượng mức sẵn lòng chi trả Ý tưởng về mức sẵn lòng chi trả (willingess to pay – WTP) được giải thích bằng đường bàng quan trong kinh tế học phúc lợi.1, đường bàng quan I thể hiện sở thích của một cá nhân cho trước.
Trục hoành thể hiện tiêu dùng một hàng hóa (ví dụ trong trường hợp của nghiên cứu này là nước sinh hoạt, đơn vị tính là m3/tháng). Trục tung thể hiện chi tiêu cho những hàng hóa còn lại, qui ra tiền, đơn vị tính là đồng/tháng. Những điểm trên đường bàng quan I thể hiện sự kết hợp chi tiêu giữa nước sinh hoạt với các hàng hóa còn lại mà mang lại cùng một mức độ thỏa dụng cho cá nhân. Tại điểm A, tương ứng với tình trạng sử dụng nước ban đầu, cá nhân tiêu dùng x0 nước sinh hoạt và chi tiêu y0 cho những hàng hóa còn lại.
Tại điểm B, cá nhân cải thiện tình trạng sử dụng nước của mình bằng cách tăng tiêu dùng nước sinh hoạt từ x0 lên x1, nhưng chi tiêu cho các hàng hóa khác phải giảm từ y0 xuống y1. Vì A và B có cùng độ thỏa dụng nên giá trị y0 – y1 (đoạn AC) chính là mức sẵn lòng chi trả cho lượng nước sinh hoạt tiêu dùng tăng thêm. Đường bàng quan của một cá nhân y: chi tiêu cho những hàng hóa còn lại (đồng/tháng) A y0 B y1 C I O x0 x1 x : lượng nước sinh hoạt (m3/tháng) Nguồn: Bateman và các đồng tác giả, Economic Valuation with Stated Preference Techniques: a Manual (2002, p 24-25) [34] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mức sẵn lòng chi trả (WTP) có thể được ước lượng bằng một trong hai phương pháp: sở thích được phát biểu (stated preference) hoặc sở thích được bộc lộ (revealed preference) 11.10 Điểm cơ bản phân biệt hai phương pháp này là phương pháp sở thích được phát biểu ước lượng WTP dựa trên phát biểu về sở thích của các cá nhân trong những tình huống giả thiết: “Ông/bà sẵn lòng trả bao nhiêu tiền cho nước sạch ?” hoặc “Ông/bà có sẵn lòng trả A đồng cho nước sạch không?”. Phương pháp sở thích được bộc lộ ước lượng WTP dựa trên thông tin từ những quan sát và bằng chứng thực tế (bằng những phương pháp như chi phí du hành - travel cost method, đánh giá hưởng thụ - hedonic price …).
Do không thể thu thập được những bằng chứng thực tế về việc tiêu thụ nước sạch ở nông thôn (hóa đơn tiền nước hàng tháng, chi phí sử dụng nước đối với những hộ không dùng nước máy …) nên nghiên cứu này áp dụng phương pháp sở thích được phát biểu để ước lượng WTP đối với nước sạch. Vấn đề lớn nhất khi áp dụng phương pháp sở thích được phát biểu là tính chất giả định của những câu hỏi và độ chính xác của những câu trả lời. Kết quả thu được là mức giá mà người ta sẵn lòng chi trả chứ không phải là mức giá mà họ đã thanh toán thật sự. Tuy nhiên đây cũng là phương pháp tiếp cận gần nhất đến giá trị của hàng hóa bởi nó thu thập thông tin trực tiếp từ khách hàng, thông qua phát biểu về mong muốn.
Mấu chốt là cách thiết kế nghiên cứu và đặt câu hỏi để người trả lời hiểu rõ về giá trị của hàng hóa, từ đó xác định được mức sẵn lòng chi trả thực sự của cá nhân, đồng thời loại bỏ những câu trả lời không nghiêm túc, nói giảm hoặc nói quá mức sẵn lòng chi trả thực sự của cá nhân. Trong phương pháp sở thích được phát biểu có hai phương pháp: định giá ngẫu nhiên (contingent valuation) và mô hình chọn lựa (choice modelling), trong đó phương pháp định giá ngẫu nhiên thường được dùng để ước tính giá trị kinh tế của cả hàng hóa, mô hình chọn lựa được dùng để tính toán giá trị kinh tế của một thuộc tính trong hàng hóa (ví dụ như giá trị của sự cải thiện chất lượng nước). Phương pháp định giá ngẫu nhiên được sử dụng lần đầu vào năm 1963 để ước lượng giá trị của việc săn bắn thú lớn ở Maine, Mỹ 12 và sau đó 11 11 Theo Bateman và các đồng tác giả (2002) [34] 12 Theo Champ và các đồng tác giả (2003, trang 111) [35] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 được sử dụng phổ biến để ước lượng giá trị của những hàng hóa phi thị trường và dùng trong những trường hợp không thể áp dụng phương pháp sở thích được bộc lộ. Nghiên cứu này sẽ áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên để ước lượng WTP của người dân nông thôn TP.HCM đối với nước sinh hoạt.
22 Phương pháp hồi qui logistic (logit) Nghiên cứu về WTP đối với nước sạch thường đi liền với việc ước lượng xác suất xảy ra một biến cố nào đó, ví dụ như xác suất người dân muốn cải thiện tình hình sử dụng nước hay xác suất người dân chấp nhận một mức giá cho trước … Vì đây là biến phụ thuộc mang tính nhị phân, chỉ có hai giá trị: muốn/không muốn, chấp nhận/không chấp nhận … nên mô hình thường được áp dụng để ước lượng là mô hình hồi qui logistic (logit). Đề tài này nghiên cứu về WTP của người dân đối với nước sạch để đề xuất giá nước mới, một trong những chỉ tiêu để đánh giá tính khả thi của chính sách giá nước là xác suất hộ dân ủng hộ giá nước mới. Một hộ dân bất kỳ sẽ có một giá trị WTP nào đấy đối với nước sạch, nếu giá nước mới thấp hơn hoặc cao hơn WTP thì hộ dân sẽ ủng hộ hoặc không ủng hộ giá nước mới (giả thiết rằng hộ dân sẽ ủng hộ nếu giá nước thấp hơn hoặc bằng giá trị WTP và ngược lại). WTP phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh tế, xã hội và nhân khẩu học (độ tuổi, trình độ, giới tính của chủ hộ, số lượng nhân khẩu, thu nhập bình quân của hộ …), tình trạng sử dụng nước hiện tại … Như vậy, xác suất hộ dân ủng hộ giá nước mới sẽ là một hàm số phụ thuộc vào các yếu tố trên và có dạng như sau: (2.1) Nguồn: Cao Hào Thi, Nguyễn Trọng Hoài, Bài giảng môn Các phương pháp định lượng: Biến phụ thuộc định tính [10] Trong đó: Pi là xác suất hộ dân thứ i ủng hộ giá nước mới (luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1) X2i, X3i … Xki là những yếu tố tác động đến xác suất hộ dân thứ i ủng hộ giá nước mới Biến đổi phương trình (2.1) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Lấy log 2 vế sẽ được phương trình (2.2) Áp dụng phương pháp thích hợp cực đại để ước lượng các hệ số hồi qui.
Gọi Odds là tỉ lệ giữa xác suất hộ dân ủng hộ giá nước mới với xác suất hộ dân không ủng hộ giá nước mới, tạm gọi là khả năng ủng hộ giá nước mới. Ví dụ: một hộ dân có xác suất ủng hộ giá nước mới là 60%, Odds sẽ bằng 0,6/(1-0,6) = 1,5. Ở các giá trị ban đầu Khi tăng biến Xk thêm 1 đơn vị, giữ nguyên các biến còn lại Như vậy, , còn gọi là Odds ratio (tỉ lệ khả năng).