Khóa luận tốt nghiệp điều chế cellulose nano tinh thể và ứng dụng

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp điều chế cellulose nano tinh thể và ứng dụng, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề .

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Công Nghệ Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2013

139
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

ABSTRACT

DANH MỤC PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GIỚI THIỆU

1. PHẦN I: TỔNG QUAN

1.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2. CHƯƠNG I: NGUYÊN LIỆU

1.2.1. Giới thiệu sơ lược về cây lúa

1.2.2. Triển vọng và thách thức đối với nghề trồng lúa ở Việt Nam

1.2.2.1. Những thuận lợi và triển vọng
1.2.2.2. Những trở ngại và thách thức

1.2.3. Giới thiệu về rơm

1.2.3.1. Tận dụng và xử lý rơm

1.2.4. I. Nhựa nhiệt dẻo TPU (Thermoplastic Polyurethane)

1.3. CHƯƠNG II: TINH THỂ NANO CELLULOSE VÀ ỨNG DỤNG

1.3.1. Giới thiệu chung về tinh thể nano của cellulose (CNC)

1.3.2. Các đặc tính của tinh thể nano của cellulose (CNC)

1.3.3. Sản xuất CNC

1.3.4. Ứng dụng của tinh thể nano cellulose CNC

1.4. CHƯƠNG III: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

1.4.1. Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR)

1.4.2. Nhiễu xạ tia X (XRD)

1.4.3. Kính hiển vi điện tử quét trường phát xạ (FE SEM)

1.4.4. Khối phổ cặp plasma cảm ứng (ICP - MS)

2. PHẦN II: THỰC NGHIỆM

2.1. CHƯƠNG IV: PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

2.1.1. Hóa chất, nguyên liệu và thiết bị thí nghiệm, phân tích

2.1.2. Các thiết bị được sử dụng

2.1.3. Các dụng cụ thí nghiệm khác

2.1.4. Quy trình tạo bột rơm

2.1.5. Quy trình tạo thành bột cellulose từ bột rơm

2.1.6. Quá trình thủy phân tạo thành tinh thể nano cellulose CNC

2.1.7. Quy trình ứng dụng trộn trên nhựa TPU

3. PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1. CHƯƠNG V: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1.1. Khảo sát sự phân lập cellulose từ bột rơm

3.1.2. Khảo sát về độ kết tinh của cellulose nano tinh thể

3.1.3. Khảo sát độ hòa tan của cellulose trong acid sulfuric

3.1.4. Khảo sát kích thước của tinh thể nano cellulose CNC

3.1.5. Khảo sát kết quả gắn Silane trên CNC

3.1.6. Kết quả kiểm nghiệm bằng phổ hồng ngoại FTIR

3.1.7. Kết quả kiểm nghiệm bằng khối phổ cặp plasma cảm ứng (ICP - MS)

3.1.8. Khảo sát sự tạo thành network CNC bằng phổ FTIR

3.1.9. Khảo sát tính năng cơ lý của TPU trước và sau khi độn

3.1.9.1. Kết quả đo độ cứng shore A
3.1.9.2. Kết quả đo độ kéo, độ dãn đứt và Young`s modulus của các mẫu
3.1.9.3. So sánh giữa TPU thuần và TPU có độn Cellulose
3.1.9.4. So sánh giữa TPU thuần và TPU có độn CNC
3.1.9.5. So sánh giữa TPU thuần và TPU có độn CNC network

4. PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC PHỤ LỤC

A. KẾT QUẢ ĐO PHỔ FTIR

B. KẾT QUẢ ĐO NHIỄU XẠ TIA X (XRD)

C. KẾT QUẢ ĐO FE SEM

D. KẾT QUẢ ĐO ICP - MS

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Điều Chế Cellulose Nano Tinh Thể

Cellulose nano tinh thể (CNC) là một vật liệu có tiềm năng lớn trong nhiều lĩnh vực, từ y học đến vật liệu xây dựng. Việc điều chế CNC từ nguồn cellulose tự nhiên như rơm rạ không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra các sản phẩm có giá trị cao. Quá trình điều chế CNC bao gồm nhiều bước, từ việc loại bỏ các tạp chất như hemicellulose và lignin cho đến thủy phân cellulose bằng acid sulfuric.

1.1. Cellulose Nano Tinh Thể Là Gì

Cellulose nano tinh thể (CNC) là các hạt cellulose có kích thước nano, thường được tạo ra từ cellulose tự nhiên. CNC có tính chất cơ lý vượt trội, bao gồm độ bền cao và khả năng tương thích tốt với nhiều loại polymer.

1.2. Quy Trình Điều Chế Cellulose Nano Tinh Thể

Quy trình điều chế CNC bao gồm các bước chính như loại bỏ hemicellulose, lignin và sáp từ nguyên liệu cellulose, sau đó thực hiện thủy phân bằng acid sulfuric để tạo ra các tinh thể nano cellulose. Các điều kiện như nồng độ acid, nhiệt độ và thời gian thủy phân sẽ ảnh hưởng đến chất lượng CNC.

II. Thách Thức Trong Việc Điều Chế Cellulose Nano Tinh Thể

Mặc dù việc điều chế CNC mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như chi phí sản xuất cao, khó khăn trong việc kiểm soát kích thước và hình dạng của CNC, cũng như việc đảm bảo tính đồng nhất trong sản phẩm cuối cùng là những yếu tố cần được giải quyết.

2.1. Chi Phí Sản Xuất Cao

Chi phí sản xuất CNC thường cao do yêu cầu về hóa chất và thiết bị chuyên dụng. Việc tìm kiếm các phương pháp tiết kiệm chi phí là cần thiết để thúc đẩy ứng dụng rộng rãi của CNC.

2.2. Khó Khăn Trong Kiểm Soát Kích Thước

Việc kiểm soát kích thước và hình dạng của CNC là một thách thức lớn. Các yếu tố như nồng độ acid, nhiệt độ và thời gian thủy phân có thể ảnh hưởng đến kích thước của CNC, do đó cần có các phương pháp tối ưu hóa quy trình.

III. Phương Pháp Điều Chế Cellulose Nano Tinh Thể Hiệu Quả

Để tối ưu hóa quy trình điều chế CNC, nhiều phương pháp đã được nghiên cứu. Các phương pháp này không chỉ giúp tăng hiệu suất thu hồi CNC mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm. Một số phương pháp đáng chú ý bao gồm sử dụng enzyme, siêu âm và các phương pháp hóa học khác.

3.1. Sử Dụng Enzyme Trong Điều Chế CNC

Sử dụng enzyme để phân hủy cellulose có thể giúp giảm thiểu thời gian và chi phí sản xuất. Enzyme có khả năng chọn lọc cao, giúp loại bỏ các tạp chất mà không làm hỏng cấu trúc cellulose.

3.2. Phương Pháp Siêu Âm

Phương pháp siêu âm có thể được áp dụng để tạo ra các tinh thể nano cellulose với kích thước đồng nhất. Siêu âm giúp tăng cường quá trình thủy phân và cải thiện hiệu suất thu hồi CNC.

IV. Ứng Dụng Cellulose Nano Tinh Thể Trong Thực Tiễn

CNC có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau như y học, thực phẩm, và vật liệu xây dựng. Từ việc sử dụng CNC làm chất độn trong polymer đến ứng dụng trong các sản phẩm y tế, CNC đang dần trở thành một vật liệu quan trọng trong ngành công nghiệp.

4.1. Ứng Dụng Trong Ngành Y Học

CNC được sử dụng trong ngành y học để phát triển các vật liệu sinh học, như là chất mang thuốc và vật liệu tái tạo mô. Tính tương thích sinh học của CNC giúp nó trở thành lựa chọn lý tưởng cho các ứng dụng y tế.

4.2. Ứng Dụng Trong Ngành Thực Phẩm

Trong ngành thực phẩm, CNC có thể được sử dụng như một chất tạo độ nhớt và chất ổn định. Nó giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và kéo dài thời gian bảo quản.

V. Kết Luận Về Cellulose Nano Tinh Thể Và Tương Lai

Cellulose nano tinh thể là một vật liệu đầy hứa hẹn với nhiều ứng dụng tiềm năng. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có các nghiên cứu sâu hơn về quy trình sản xuất và ứng dụng của CNC. Tương lai của CNC sẽ phụ thuộc vào khả năng giải quyết các thách thức hiện tại và phát triển các công nghệ mới.

5.1. Tương Lai Của Cellulose Nano Tinh Thể

Với sự phát triển của công nghệ, CNC có thể trở thành một vật liệu chủ chốt trong nhiều lĩnh vực. Nghiên cứu và phát triển các phương pháp sản xuất hiệu quả sẽ là chìa khóa cho sự thành công của CNC.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và mở rộng ứng dụng của CNC trong các lĩnh vực mới. Việc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và ngành công nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển của CNC.

16/08/2025
Khóa luận tốt nghiệp điều chế cellulose nano tinh thể và ứng dụng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I NGUYÊN LIỆU I. Giới thiệu sơ lược về cây lúa Cây lúa (Oryza sativa) thuộc bộ Poales, họ Poaceae là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Lúa gồm hai loài (Oryza sativa và Oryza glaberrima) trong họ Poaceae, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực đông nam châu Á và châu Phi. Hai loài này cung cấp hơn 1/5 toàn bộ lượng calo tiêu thụ bởi con người.

[1] Lúa là các loài thực vật sống một năm, có thể cao tới 1 - 1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp bản (2 - 2,5 cm) và dài 50 – 100 cm. Các hoa nhỏ tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 30 – 50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5 –12 mm và dày 2 – 3 mm. [1] Cây lúa non được gọi là mạ.

Sau khi ngâm ủ, người ta có thể gieo thẳng các hạt thóc đã nảy mầm vào ruộng lúa đã được cày, bừa kỹ hoặc qua giai đoạn gieo mạ trên ruộng riêng để cây lúa non có sức phát triển tốt, sau một khoảng thời gian thì nhổ mạ để cấy trong ruộng lúa chính. [1] Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc. Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu. Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới (chủ yếu ở châu Á và châu Mỹ La tinh), điều này làm cho nó trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ nhiều nhất.

Triển vọng và thách thức đối với nghề trồng lúa ở Việt Nam I. Những thuận lợi và triển vọng Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu. Hiện nay diện tích trồng lúa cả nước từ 7,3 dến 7,5 triệu ha, năng suất trung bình 46 ha, sản lượng giao động trong khoảng 34,5 triệu tấn/năm, xuất khẩu chưa ổn định từ 2,5 triệu đến 4 SVTH: Trương Nguyễn Đạt Thành Trang 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th. Đinh Tấn Thành triệu tấn / năm.

Trong giai đoạn tới sẽ duy trì ở mức 7 triệu ha, phấn đấu năng suất trung bình 50 tạ/ha, sản lượng lương thực 35 triệu tấn và xuất khẩu ở mức 3,5 - 4 triệu tấn gạo chất lượng cao. Hệ thống cơ chế, chính sách của nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện phát triển sản xuất lúa. [2] Nhu cầu phát triển sản xuất lúa ngày càng tăng để đảm bảo cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, do dân số Việt Nam dự kiến đến năm 2020 sẽ vào khoảng 100 triệu, dân số thế giới sẽ tăng lên gấp rưỡi. Điều kiện tự nhiên của Việt Nam hoàn toàn thích hợp cho sản xuất lúa.

Nông dân Việt Nam có kinh nghiệm trồng lúa từ lâu đời. Đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp ngày càng tăng, kết hợp với tiếp thu ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ về lúa của các nước trong khu vực và thế giới. Năng suất, sản lượng lúa ngày càng tăng do ngày càng có nhièu giống mới chịu thâm canh, năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứng rộng và chống sâu bệnh. Xuất khẩu gạo ngày càng tăng về số lượng và chất lượng góp phần ổn định đời sống cho nông dân là lực lượng chiếm đại đa số trong tổng số 80 triệu dân Việt Nam.

Việt Nam đã gia nhập WTO, đây là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho lúa, gạo và các loại sản phẩm nông nghiệp khác tham gia vào thị trường thương mại nông sản của thế giới. Những trở ngại và thách thức Quá trình đô thị hoá tăng, diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp. [2] Nhiều vùng sản xuất lúa được nông dân sở hữu rất manh mún, khó cơ giới hóa. Quá trình áp dụng giống mới chịu thâm canh, phát triển thành những vùng sản xuất hàng hóa là điều kiện thuận lợi để các loại dịch hại mới nguy hiểm, khó phòng SVTH: Trương Nguyễn Đạt Thành Trang 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.

Đinh Tấn Thành trừ. Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật có xu hướng tăng, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản. Tham gia vào thị trường thương mại thế giới có sự đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng nông sản. Do vậy phải có sự đầu tư một cách đồng bộ từ sản xuất đến đánh giá kiểm định chất lượng, bảo quản và vận chuyển tiêu thụ.

Giới thiệu về rơm Rơm là các loại cây lúa (lúa nước, lúa mì) hoặc là các loại cỏ, cây họ đậu hay cây thân thảo khác đã được cắt, sấy khô (phơi nắng) và được lưu trữ để sử dụng làm thức ăn cho gia súc chủ yếu là các động vật ăn cỏ. [3] Khi mùa rét, trâu bò, ngựa, dê không thể chăn thả người ta thường cho chúng ăn rơm, vì những dạ dày của những động vật này ăn cỏ có khả năng phân hủy cellulose thành đường, cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho chúng. Ngoài ra rơm còn được sử dụng để làm chất đốt rất tốt, ở Việt Nam, ở vùng nông thôn người ta thường dùng rơm để đun nấu. bên cạnh đó, rơm còn là nguyên liệu quan trọng để nuôi trồng nấm.

Việc đốt rơm, rạ ngoài đồng sau thu hoạch lúa chẳng những lãng phí nguồn nguyên liệu mà còn gây ô nhiễm môi trường. Các nhà khoa học cho biết thành phần các chất gây ô nhiễm không khí do đốt rơm, rạ, tác động đến sức khỏe con người là hydrocacbon thơm đa vòng (viết tắt là PAH); dibenzo-p-dioxin clo hóa (PCDDs), và dibenzofuran clo hóa (PCDFs), là các dẫn xuất của dioxin rất độc hại, có thể là tiềm ẩn gây ung thư. [4]  Tận dụng và xử lý rơm Việc đốt rơm, rạ trực tiếp ngay trên đồng ruộng gây bất lợi cho đồng ruộng lớn hơn nhiều lần so với việc làm phân bón như ta tưởng. Các chất hữu cơ trong rơm rạ và trong đất biến thành các chất vô cơ do nhiệt độ cao.

Đồng ruộng bị khô, chai cứng, một lượng SVTH: Trương Nguyễn Đạt Thành Trang 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th. Đinh Tấn Thành lớn nước bị bốc hơi do nhiệt độ hun đốt trong quá trình cháy rơm, rạ. Quá trình đốt rơm, rạ ngoài trời không kiểm soát được, lượng cacbon dioxit CO2, phát thải vào khí quyển cùng với cacbon monoxit CO; khí metan CH 4; các oxit nitơ NOx; và một ít lưu huỳnh đioxit SO2. [5] Phần rơm, rạ sót này thường được cày lấp vào trong đất làm phân bón cho mùa vụ sau.

Việc phân hủy gốc rạ và rơm phụ thuộc vào độ ẩm của đất, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng khí metan CH4 được giải phóng trong khi ủ. Hầu hết các nước đã và đang tìm kiếm các phương pháp tận dụng rơm, rạ và xử lý theo cách an toàn, thân thiện với môi trường. [5] Ở nước ta, từ lâu đời đã biết trồng nấm rơm ngay ngoài trời tận dụng diện tích trống. Trồng nấm rơm mang lại hiệu quả kinh tế cao, không những hấp dẫn thị trường trong nước mà thị trường thế giới ngày càng ưa chuộng.

Bởi theo các nhà khoa học, nấm rơm là thực phẩm nhiều dinh dưỡng mà không làm tăng lượng cholesterol trong máu. Hàm lượng protein trong nấm lên tới 5%, đặc biệt có 8 loại axit amin không thay thế trong số 19 axit amin có trong nấm. Nấm rơm có thành phần chất xơ cao và lipit thấp, phòng trừ bệnh huyết áp, chống béo phì, xơ cứng động mạch, chữa bệnh đường ruột… Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tiềm năng phát triển nghề trồng nấm. Khu vực này có đủ các điều kiện như chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng và tháng lạnh không đáng kể, có thể trồng nấm rơm quanh năm.

Trung bình cứ một tấn lúa có 1,2 tấn rơm, rạ, ngoài ra còn mạt cưa, bèo tây, bã mía,… là nguồn nguyên liệu lớn để trồng nấm rơm. Thời kỳ nông nhàn nhiều, nhất là mùa lũ, hơn nữa trồng nấm rơm không đòi hỏi cao về kỹ thuật. Nấm không chiếm nhiều diện tích, chủ yếu tận dụng diện tích trống, chi phí thấp. Giải quyết tốt các nguồn thu nhập cho nông dân.

Người ta dùng men vi sinh tạo ra nguồn phân ủ, giảm được một nửa chi phí đầu vào cho nông dân, cải tạo đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường; hướng tới một thương hiệu gạo an toàn, chất lượng. Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, SVTH: Trương Nguyễn Đạt Thành Trang 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th. Đinh Tấn Thành đã áp dụng thành công phương pháp sản xuất phân bón từ rơm, rạ tại ruộng bằng công nghệ vi sinh. [6] Thay vì đổ xuống ruộng đồng phân hóa học, khiến cấu trúc đất bị đổi thay, nhanh chóng mất dần độ phì nhiêu, và gây ô nhiễm ngày một nặng nề, thì nông dân đã có phân từ rơm, rạ của mình, làm cho đất đai thêm phì nhiêu và môi trường an toàn, nâng cao giá trị kinh tế, xã hội.

[6] Việc sử dụng rơm, rạ cho sản xuất năng lượng, gồm nhiên liệu sinh khối rắn, nhiên liệu sinh học, đóng bánh, sản xuất bột giấy,…là phương pháp tận dụng tối ưu. Song thu gom, vận chuyển là rào cản lớn từ nghiên cứu triển khai đến sản xuất. Hy vọng rơm, rạ sẽ trở thành nguồn thực phẩm bổ sung vào phân vi sinh, nguyên liệu đưa vào sản xuất mà không còn là gánh nặng gây ô nhiễm môi trường do đốt bỏ. [6] Ngoài việc dùng làm nấm, sản xuất phân bón hữu cơ, rơm, rạ còn dùng làm vật liệu xây dựng; làm bê tông siêu nhẹ, đệm lót vận chuyển hàng hóa dễ vỡ, vận chuyển hoa quả, v.

Các thành phần chứa trong rơm I. Các thành phần chính Các thành phần chính của rơm, rạ là những hydratcacbon gồm: cellulose 37,4%, hemicellulose (44,9%), lignin 4,9% và hàm lượng tro (oxit silic) cao từ 9 đến 14%. Đó là điều gây cản trở việc xử dụng rơm, rạ một cách kinh tế. Cellulose Cellulose (tiếng Việt phiên âm và viết xenlulo, xenlulozơ, xenluloza hoặc xenlulô) là hợp chất cao phân tử được cấu tạo từ các liên kết các mắt xích β-D-Glucose, có công thức cấu tạo là (C6H10O5)n hay [C6H7O2(OH)3]n trong đó n có thể nằm trong khoảng 5.000, là thành phần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật.[7]  Tính chất vật lý SVTH: Trương Nguyễn Đạt Thành Trang 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.

Đinh Tấn Thành Là chất màu trắng, không mùi, không vị. Cellulose không tan trong nước ngay cả khi đun nóng và các dung môi hữu cơ thông thường. Tan trong một số dung dịch acid vô cơ mạnh như: HCl, HNO3,… một số dung dịch muối: ZnCl2, PbCl2,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ