mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương: Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chƣơng 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ VẬN HÀNH CỦA DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC NĂNG CỦA DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI Chƣơng 4: PHƢƠNG THỨC KIẾN TẠO DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Có thể nhận thấy trong khoảng 10 năm trở lại đây, ở Việt Nam, việc tiếp cận lí thuyết diễn ngôn và áp dụng vào nghiên cứu trường hợp cụ thể đã trở nên phổ biến. Khảo sát các nguồn tài liệu hiện có, chúng tôi nhận thấy các vấn đề diễn ngôn, diễn ngôn tính dục và tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã nhận được sự quan tâm nhất định của giới nghiên cứu.
Các hướng tiếp cận khái niệm diễn ngôn Về việc tiếp cận và áp dụng lí thuyết diễn ngôn hiện tại có ba xu hướng chính: những ý kiến bàn về diễn ngôn trong ngữ học, lí luận văn học và xã hội học. Trong lĩnh vực ngữ học, khái niệm diễn ngôn được giới thiệu qua một số công trình dịch như: Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan [122], Phân tích diễn ngôn [24] của Gillian Brown, George, Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday [51].Các công trình này đã giải quyết một số câu hỏi cơ bản như: diễn ngôn là gì, đặc điểm và chức năng của diễn ngôn, các vấn đề ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đường hướng phân tích diễn ngôn. Qua một số công trình trên, các nhà ngôn ngữ trên đều thống nhất cách hiểu diễn ngôn là khái niệm dùng để chỉ ngôn ngữ đang hoạt động, trong sử dụng và trong ngữ cảnh văn hóa. Trong cuốn Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp [64], Nguyễn Hòa đã bàn kĩ hơn về khái niệm này khi ông phân biệt nó với khái niệm văn bản.
Theo nhà nghiên cứu này diễn ngôn là sự kiện hoặc quá trình giao tiếp hoàn chỉnh, thống nhất có mục đích, không có giới hạn. Nó được sử dụng trong từng hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Đồng thời ông cũng nêu ra một số đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn như đường hướng dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, dân tộc học giao tiếp. Cuốn sách Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản [12] của tác giả Diệp Quang Ban đã bàn đến hai vấn đề cơ bản của phân tích diễn ngôn: một là, quá trình hình thành phân tích diễn ngôn với các nội dung như mối quan hệ giữa diễn ngôn với thuật hùng biện và ngôn ngữ học, các giai đoạn của việc nghiên cứu diễn ngôn, một số công cụ lí thuyết; hai là, vấn đề phân tích diễn ngôn phê bình và ngôn ngữ học sinh thái.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, theo nghiên cứu của các nhà ngữ học, diễn ngôn được phân tích ở trạng thái đang hoạt động trong thực tiễn giao tiếp của ngữ cảnh văn hóa. Đại diện cho hướng nghiên cứu về diễn ngôn trong lí luận văn học là M.Bakhtin và một số học giả Nga như Davidovich Tamarchenco, Valeri Igorovich Chiupa. Đây là những đại diện tiêu biểu trong việc xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại. Trên tinh thần đối lập với quan điểm của F.Bakhtin chủ trương nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn từ (phát ngôn, lời nói, văn bản) với đời sống và ý thức hệ.
Một số công trình tiêu biểu của ông như: Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki [20], Sáng tác của François Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung Cổ và Phục Hưng [21], Lí luận và thi pháp tiểu thuyết [22], Vấn đề thể loại lời nói [23].Chiupa là người có đóng góp to lớn trong việc hoàn thiện khái niệm diễn ngôn dưới góc nhìn của thi pháp học và tu từ học. Nhà nghiên cứu này tập trung nghiên cứu diễn ngôn ở một số khía cạnh như: thẩm quyền và hình thái diễn ngôn. Ba bài viết tiêu biểu của tác giả là: Diễn ngôn, Thẩm quyền diễn ngôn, Hình thái diễn ngôn [30]. Người khởi xướng và đại diện tiêu biểu nhất cho hướng nghiên cứu thứ ba – nghiên cứu diễn ngôn dưới góc nhìn xã hội học chính là M.
Tư tưởng của ông trở thành một hiện tượng được nhắc nhiều nhất ở thể kỉ XX. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu này, thực tại khách quan chỉ có thể có nội dung, ý nghĩa cụ thể khi thông qua diễn ngôn. Đó là một hệ thống các hạn chế, giới hạn đối với hoạt động ngôn ngữ của con người. Trong đó ba yếu tố quan trọng tham gia tạo lập diễn ngôn đó là hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chế quyền lực của xã hội.
Chính những yếu tố này sẽ quy định ở hoàn cảnh lịch sử - xã hội nào người ta được phép/ không được phép nói về điều gì và nếu nói thì nói như thế nào. Các công trình tiêu biểu của M.Foucault về diễn ngôn là: Trật tự diễn ngôn [215], Khảo cổ tri thức[45], Lịch sử tính dục [214]. Như vậy, các nhà nghiên cứu như Bakhtin và Foucault đều không bàn diễn ngôn về mặt ngữ học mà nói trên ý nghĩa triết học và tư tưởng hệ. Theo họ, chính hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con ngƣời và cơ chế quyền lực trong xã hội đã trở thành logic thực tại, cái cơ chế thầm kín chi phối cách sử dụng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngôn từ của con người.Bakhtin nhìn thấy quyền lực đã ngấm vào ngôn ngữ còn M.Foucault cho rằng tri thức phải được tồn tại trong ngôn ngữ biểu đạt.
Ở Việt Nam, hai nhà nghiên cứu Trần Đình Sử và Trần Văn Toàn đã dành nhiều thời gian cho việc dịch, giới thiệu và áp dụng nghiên cứu lí thuyết này vào nghiên cứu thực tiễn văn học nước nhà. Trần Đình Sử có một số bài viết như: Bản chất xã hội, thẩm mĩ của diễn ngôn văn học [145], Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay [146], Bước ngoặt diễn ngôn và sự đổi thay hệ hình nghiên cứu văn học [148], Khái niệm diễn ngôn [149]. Trong bài viết Bản chất xã hội thẩm mỹ của ngôn từ văn học, tác giả đã có cái nhìn khá hoàn chỉnh về bản chất của ngôn từ văn học. Tiếp thu quan điểm về diễn ngôn của M.Foucault, Trần Đình Sử khẳng định sự chi phối của cơ chế văn hóa, xã hội đối với việc sử dụng ngôn từ của con người, khẳng định sự vận động của văn học suy cho cùng là sự vận động của ngôn từ, hình thái ngôn từ này chống lại hình thức ngôn từ có trước.
Bên cạnh Trần Đình Sử, Trần Văn Toàn cũng là nhà nghiên cứu quan tâm đến lí thuyết diễn ngôn nói chung và diễn ngôn tính dục nói riêng. Nếu hướng nghiên cứu của Trần Đình Sử chủ yếu theo định hướng tư tưởng của M.Bakhtin thì Trần Văn Toàn lại thiên về tư tưởng diễn ngôn của Foucault. Tác giả có một số bài viết liên quan đến lí thuyết này như: Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật (Trường hợp của Dũng trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh) [190], Dẫn nhập lí thuyết diễn ngôn của M.Foucault và nghiên cứu văn học [191], Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) [192], Phương Tây và sự hình thành diễn ngôn về bản sắc Việt Nam (trường hợp Phan Bội Châu từ 1905 – 1908) [193]. Thêm vào đó là một số bài viết như: Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ của Trần Thiện Khanh [88], Vài suy nghĩ về khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học của Nguyễn Thị Hải Phương [133].
Năm 2010, khoa văn học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tổ chức Hội thảo về Diễn ngôn. Tham gia hội thảo này có nhiều bài viết vận dụng lí thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu các hiện tượng văn học. Trong bài viết Thử nhận diện diễn ngôn hậu thực dân qua thực tiễn diễn giải văn học Việt Nam thời kì đổi mới [41], qua việc khảo sát một số tác giả, tác phẩm thuộc văn học thời kì đổi mới như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thiệp, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Đoàn Ánh Dương đặt ra vấn đề diễn ngôn hậu thực dân (postcolonial discourse) quy định các biểu hiện văn hóa như thế nào trong đời sống văn hóa xã hội, văn học nghệ thuật và tâm thức của người dân Việt Nam. Bài viết Diễn ngôn về xứ thuộc địa trong tác phẩm Người Tình của M.Duras của Nguyễn Thị Ngọc Minh [102] lại có hướng tiếp cận khác.
Đó là tính nước đôi trong nhãn quan về xứ thuộc địa. Bài nghiên cứu khẳng định: Diễn ngôn hậu thực dân không chỉ ảnh hưởng một chiều đến xứ thuộc địa mà ngược lại, xứ thuộc địa cũng có những tác động trở lại đến chính quốc. Gần đây một số luận văn, luận án đã sử dụng lí thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu trường hợp như: luận án Diễn ngôn hiện thực trong văn học: những vấn đề lí thuyết và lịch sử của Trần Thiện Khanh [80], luận văn Tiểu thuyết Vùng sâu của Tô Nhuận Vỹ từ góc nhìn diễn ngôn của Lê Thị Thanh Huyền [70], luận văn Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Hội thề của Nguyễn Quang Thân của Trương Thị Nhung [120]. Chọn đối tượng là truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 từ góc nhìn diễn ngôn, luận án Truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 như một trường diễn ngôn [49] đã tập trung nghiên cứu ba phương diện thẩm quyền diễn ngôn (thẩm quyền sáng tạo, thẩm quyền của cái được biểu đạt và thẩm quyền tiếp nhập) trong cả hai khu vực (trung tâm và ngoại biên).
Tập trung vào các tác phẩm thuộc giai đoạn 1945 – 1975, luận án Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đi vào nghiên cứu cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ từ hai phương diện là chiến lược giao tiếp và trật tự diễn ngôn.