Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xác định điểm, tuyến du lịch Chương 2. Hiện trạng hoạt động các điểm, tuyến du lịch văn hóa – lịch sử ở tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3. Định hướng và các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các điểm, tuyến du lịch văn hóa – lịch sử ở tỉnh Thừa Thiên Huế 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH ĐIỂM, TUYẾN DU LỊCH 1.
Các khái niệm có liên quan 1. Khách du lịch Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch được phân ra khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.[15] - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. - Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
Công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. [15] Tài nguyên du lịch được chia thành 2 nhóm là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đ ch du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đ ch du lịch. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. [15] Sản phẩm du lịch có những đặc trưng ch nh sau đây: - Tính vô hình; - T nh không đồng nhất; - T nh đồng thời giữa sản xuất và tiêu dung; - Tính mau hỏng và không dự trữ được; - Sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng; - Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ; - Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch.
Chương trình – Tour du lịch Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi. [15] Nội dung của một chương trình du lịch bao gồm: - Tổng quỹ thời gian: n ngày và n-1 đêm - Lộ trình - Kế hoạch hoạt động chi tiết cho từng ngày - Phương án vận chuyển, ăn uống, lưu trú cùng các hoạt động tham quan vui chơi giải trí - Các điều khoản trong điều kiện của chương trình, mức giá 1. Điểm, tuyến du lịch a) Điểm du lịch - Luật du lịch Việt Nam đã quy định tại chương 1, điều 4, khoảng 9 “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.” [15] 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, điểm du lịch được phân thành 3 nhóm: điểm du lịch sinh thái, điểm du lịch văn hóa và điểm du lịch sinh thái kết hợp văn hóa. Như vậy, điểm du lịch văn hóa (VH-LS) dựa vào TNDL nhân văn, trước hết là VH-LS, bao gồm di sản văn hóa thế giới, di tích VH-LS, lễ hội, làng nghề, ẩm thực, văn hóa truyền thống, các đặc điểm dân tộc,… Căn cứ vào vị tr , quy mô, đặc điểm TNDL và mức độ hấp dẫn du lịch, Luật du lịch Việt Nam đã phân chia điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương.
[15] + Điểm du lịch quốc gia Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm. + Điểm du lịch địa phương: Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm. Việc xác định các điểm du lịch (sinh thái, văn hóa, sinh thái kết hợp văn hóa) và theo cấp quản lý (quốc gia, địa phương), chủ yếu là định tính và đạt được ở mức độ tương đối. - Điểm du lịch có những đặc trưng chủ yếu sau [11]: + Điểm du lịch mang tính xen ghép + Điểm du lịch có chu kỳ, vòng đời + Điểm du lịch có sức chứa khách khác nhau b) Tuyến du lịch 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tại chương 1, điều 4, khoản 9, Luật du lịch quy định rằng: “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không.”[15] Như vậy, cơ sở để hình thành tuyến du lịch là các điểm du lịch, hệ thống mạng lưới giao thông và CSVCKT phục vụ du lịch.
Các tuyến du lịch sẽ liên kết các điểm du lịch lại với nhau. Trong một tuyến du lịch có thể có nhiều tour du ịch đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách. Tuyến du lịch VH-LS phải lấy yếu tố VH-LS làm cốt lõi. Trong tuyến du lịch VH-LS, điểm du lịch VH-LS phải chiếm tỷ lệ cao nhất.
Các điểm du lịch kết hợp hoặc du lịch sinh thái cũng có thể được đưa vào nhưng chỉ để làm nổi bật các giá trị VH-LS cũng như làm phong phú thêm các hoạt động du lịch trong tuyến. - Căn cứ vào phạm vi hoạt động, quy mô, độ hấp dẫn du lịch, Luật du lịch Việt Nam đã xác định tuyến du lịch quốc gia và tuyến du lịch địa phương. + Tuyến du lịch quốc gia Nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế; Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến. + Tuyến du lịch địa phương Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương; Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định các điểm, tuyến du lịch văn hóa - lịch sử 1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ Khi xác định điểm, tuyến du lịch VH-LS, vị tr địa lý là nhân tố quan trọng. Đánh giá tác động vị tr địa lý không chỉ là xác định hệ tọa độ, ranh giới lãnh thổ, các mối quan hệ kinh tế, giao lưu, thông thương đi lại mà còn đánh giá ý nghĩa kinh tế của vị tr đó đối với du lịch.
Từ đó, xác định được những lợi thế cũng như những cạnh tranh mà các điểm, tuyến du lịch VH-LS đang gặp phải để đưa ra những giải pháp phát triển th ch hợp. Tài nguyên du lịch a) Tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng hiện tượng do con người tạo ra được sử dụng dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ các hoạt động du lịch. [15] Tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú nhưng quan trọng nhất vẫn là các di sản văn hóa thế giới, các di t ch (VH-LS, kiến trúc- nghệ thuật, bảo tàng, di t ch khảo cổ), lễ hội, làng nghề, các đối tượng gắn với dân tộc học, các hoạt động văn hóa, thể thao. - Các di sản văn hóa thế giới và các di t ch VH-LS Các di sản văn hóa thế giới và di tích VH-LS được coi là một trong những tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng nhất.
Đây là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch. Loại tài nguyên này gắn liền với môi trường xung quanh, thể hiện sự sinh động của quá khứ đã hun đúc nên và làm cho cuộc sống thêm đa dạng, phong phú. Qua các thời đại, di sản văn hóa thế giời và di tich VH-LS đã minh chứng cho những sáng tạo to lớn về văn hóa, tôn giáo và xã hội loài người. Việc bảo vệ, khôi phục và tôn tạo những thành quả của loài người trong các thời kỳ lịch sử không chỉ là trách nhiệm bảo tồn của nhân loại, mà còn tạo điều kiện để những giá trị vô giá đó có thể khai thác, trong đó có mục đ ch du lịch.
22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Di sản văn hoá thế giới Các di sản văn hoá thế giới (vật thể và phi vật thể) là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia hay địa phương nào nếu có những di t ch được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một vinh dự lớn, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế và trở thành điểm du lịch quốc gia. Bên cạnh đó, tầm vóc giá trị của di sản đó được nâng cao, trong mối quan hệ có tính toàn cầu. Các giá trị văn hóa, thẩm mỹ cũng như các ý nghĩa kinh tế, chính trị vượt khỏi phạm vi một nước.
Khả năng thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ phát triển hơn nhiều. + Các di tích VH-LS Di tích VH-LS là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia.