Chương 1: Phát triển DVNHBL của NHTM. Chương 2: Thực trạng DVNHBL tại NHĐT&PTVN - Chi nhánh tỉnh Tiền Giang. Chương 3: Các giải pháp góp phần phát triển DVNHBL tại NHĐT&PTVN - Chi nhánh tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn 2011-2015. 4 CHƢƠNG 1 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NHTM 1.
TỔNG QUAN VỀ NHTM: 1. Khái niệm NHTM: NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và trong hệ thống ngân hàng trung gian nói riêng. Đề cập về khái niệm NHTM, có nhiều cách phát biểu khác nhau: -Ở Pháp: NHTM là những doanh nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ tín dụng, chứng khoán hay dịch vụ tài chính. - Ở Mỹ: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Ở Ấn Độ:NHTM là cơ sở chuyên nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. - Ở Việt Nam: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Như vậy, có thể hiểu NHTM là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. NHTM luôn được xem là loại hình ngân hàng quan trọng nhất trong các ngân hàng trung gian.
Phân loại NHTM: * Dựa vào hình thức sở hữu, có thể phân loại NHTM như sau: - NHTM Nhà nước: Là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước. 5 - NHTM cổ phần: Là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác và các cá nhân cùng góp vốn theo quy định của NHNN. - NH liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. - Chi nhánh NH nước ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của NH nước ngoài, được NH nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam.
* Dựa vào chiến lược kinh doanh, có thể phân loại như sau: -NH bán buôn: Là NH chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng là doanh nghiệp lớn và các định chế tài chính hay những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn. Các khách hàng chủ yếu của NH bán buôn là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, xí nghiệp có qui mô lớn. (theo từ điển giải nghĩa Tài chính-Đầu tư Ngân hàng-kế toán Anh-Việt NXB KH&KT 1999 tr.460) * Dựa vào quan hệ tổ chức, có thể chia NHTM thành: NH hội sở, NH chi nhánh (cấp 1) và phòng giao dịch. Các hoạt động cơ bản của NHTM: 1.
Hoạt động huy động vốn: Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Trong hoạt động này ngân hàng thương mại được sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: 6 - Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá. - Vay vốn - Huy động vốn khác.
Hoạt động tín dụng: Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm: Cho vay (ngắn, trung và dài hạn). Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá.
Bảo lãnh ngân hàng Cho thuê tài chính. Bao thanh toán. Hoạt động kinh doanh khác: Ngoài các hoạt động cho vay và đầu tư tạo ra lợi nhuận, ngân hàng thương mại còn đóng vai trò là trung gian thực hiện các dịch vụ và hoạt động ngân hàng khác theo yêu cầu của khách hàng như: dịch vụ kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thanh toán, thu hộ, chi hộ, ủy thác, bảo quản vật có giá, bảo lãnh, tư vấn tài chính… Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Ở một số ngân hàng lớn trên thế giới như Citibank, HSBC…thì tỷ trọng lợi nhuận thu từ dịch vụ lên đến 20%.
Ngày nay, lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ này ngày càng tăng cao và chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động ngân hàng. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ: 1. Khái niệm về DVNHBL: Theo khái niệm của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì DVNHBL là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi mà khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh ( phòng giao dịch) của các ngân hàng để thực hiện các 7 dịch vụ như: gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm…Như vậy, theo khái niệm trên, thì có thể thấy rằng DVNHBL là loại hình dịch vụ mang tính điển hình và phổ biến của một NHTM và DVNHBL được xem là một bộ phận cấu thành sản phẩm dịch vụ của một NHTM đơn giản đến ngân hàng đa năng. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, DVNHBL là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm bán lẻ tín dụng và bán lẻ dịch vụ ngân hàng phi tín dụng thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ: - Số lượng khách hàng lớn. DVNHBL là những dịch vụ cung ứng tiện ích và sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt), do đó đối tượng của DVNHBL là vô cùng lớn gồm các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Giá trị của các khoản giao dịch nhỏ. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp cho khách hàng không phải là những khoản giao dịch tiền gửi lớn đến hàng trăm ngàn USD hay những khoản cho vay lên tới hàng triệu USD, mà là những dịch vụ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của khách hàng, là tất cả những nhu cầu của công chúng liên quan đến sự vận động của tiền.
Vì thế, nó tuân theo yêu cầu của các hàng hoá nói chung, yêu cầu mà do chính người tiêu dùng đặt ra. Đó là công dụng thực tế, thỏa mãn nhu cầu của con người, chẳng hạn chuyển tiền ra nước ngoài cho người thân, thanh toán chi tiêu hàng ngày, vay tiền cho con du học…Mặc dù các nhu cầu này là rất đa dạng và không ngừng phong phú nhưng chúng đều có chung những yêu cầu là nhanh, tiện ích, chính xác và an toàn. - Chi phí bình quân cao. 8 DVNHBL phục vụ cho các nhu cầu giao dịch và thanh toán thường xuyên của người dân như thanh toán tiền hàng, chuyển khoản, chuyển vốn…Do đó DVNHBL bao gồm nhiều món giao dịch với giá trị mỗi giao dịch không lớn nên chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao.
- Sản phẩm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ vừa có sản phẩm thuộc tài sản nợ như tiền gửi tiết kiệm, vừa có sản phẩm thuộc tài sản có như cho vay cá nhân. - Sự phát triển của DVNHBL tuỳ thuộc rất lớn vào trình độ công nghệ thông tin của nền kinh tế nói chung và của bản thân mỗi ngân hàng nói riêng. - Marketing ngày càng giữ vai trò quan trọng: Khoảng đến thập niên 80 thì hoạt động marketing trở nên rầm rộ hơn, hầu hết các ngân hàng bán lẻ lớn đều có một bộ phận marketing chuyên trách. Nhờ đó đã nâng cao hiệu quả hoạt động vủa ngân hàng và mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm.
Hoạt động ngân hàng bán lẻ càng đòi hỏi phải thực hiện marketing thường xuyên hơn do những đặc điểm của nó, và phải làm tăng được tính hữu hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Các dịch vụ mới được đưa ra trên thị trường một cách liên tục với những tính năng mới, đối tượng khách hàng mới…Thông qua các hoạt động marketing, sản phẩm dịch vụ sẽ dễ dàng và nhanh chóng đến tay người tiêu dùng. Các sản phẩm dịch vụ NHBL: 1. Huy động vốn : Đây là một nghiệp vụ tài sản nợ, là một nguồn huy động truyền thống của ngân hàng thương mại, góp phần hình thành nên nguồn vốn hoạt động của các ngân hàng.Thông qua các biện pháp và công cụ được sử dụng, NHTM huy động vốn từ các khách hàng cá nhân theo các hình thức : tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…huy động vốn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các hình thức như tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi ký quỹ thanh toán của các doanh nghiệp tại ngân hàng.
Đặc điểm của nguồn vốn huy động từ cá nhân: - Khả năng huy động vốn tập trung tại một số địa bàn và một số khách 9 hàng: huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá, tập trung chủ yếu tại những đô thị phát triển về kinh tế xã hội, công nghiệp, dịch vụ và phát triển công nghệ. - Giá vốn không đồng nhất giữa các địa bàn, thời điểm: căn cứ vào điều kiện về kinh tế, xã hội, mặt bằng lãi suất tại địa bàn, nhu cầu của ngân hàng mà từng ngân hàng sẽ có những đề xuất lãi suất huy động từ cá nhân thích hợp.