Chương 1: Khái quát chung về công trình nhân tạo trên biển dưới góc độ luật pháp quốc tế. Chương 2: Quy chế pháp lý của các công trình nhân tạo trên biển theo Luật quốc tế. Chương 3: Áp dụng chế độ pháp lý các công trình nhân tạo phản bác yêu sách phi pháp của Trung Quốc bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TRÌNH NHÂN TẠO TRÊN BIỂN DƢỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 1.
Khái niệm “công trình nhân tạo” trong Luật quốc tế Công trình nhân tạo là sản phẩm do con người tạo nên, nhưng trong lịch sử của luật pháp quốc tế, khái niệm này chưa bao giờ được xác định rõ ràng. Xuất phát từ học thuyết thềm lục địa, từ lâu người ta đã công nhận thẩm quyền của quốc gia ven biển xây dựng các cấu trúc nhân tạo nhằm mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình trên thềm lục địa của mình nhưng các cấu trúc này không có quy chế đảo. Tại Hội nghị Pháp điển hoá Luật pháp quốc tế La Hay năm 1930, đại diện của Đức đã đề nghị nếu một đảo nhân tạo có người ở thì sẽ được hưởng quy chế đảo nhưng Hội nghị đã bác bỏ [2]. Từ đó, không có quốc gia nào đề nghị các cấu trúc nhân tạo có quy chế đảo nữa.
Trong luật pháp quốc tế, khái niệm công trình nhân tạo (artificial installation) chưa được quy định rõ ràng. Cho đến nay, chưa một khái niệm nào về công trình nhân tạo được các quốc gia chấp nhận rộng rãi. Theo Bách khoa toàn thư về Công pháp quốc tế, công trình nhân tạo được định nghĩa là “những cấu trúc cố định hay tạm thời được gắn với đáy biển bằng hệ thống chân cọc”. Theo Soons, ông cho rằng “công trình nhân tạo là những cấu trúc bê tông cố định gắn với đáy biển bằng ống dẫn và các cọc”.
Trong khi đó, Nghị định thư về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại sự an toàn của những công trình cố định trên thềm lục địa năm 1988 đã đồng nhất khái niệm “đảo nhân tạo” với khái niệm “công trình nhân tạo”. Theo đó, “công trình nhân tạo” được hiểu là “một đảo nhân tạo, thiết bị hoặc cấu trúc được lắp đặt vĩnh cửu gắn với đáy biển nhằm mục đích thăm dò hoặc khai thác tài nguyên hoặc nhằm các mục đích kinh tế khác”. Các định nghĩa này còn chưa đầy đủ, chưa bao gồm được hết những loại hình công trình nhân tạo dần dần xuất hiện ngày càng nhiều như thành phố trên biển, các dàn khoan dầu khí, các đảo nhân tạo phục vụ đánh bắt cá, nhà máy điện, bến tàu nổi… 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học pháp lý, công trình nhân tạo trên biển thường được hiểu là những thiết bị và công trình nhân tạo được xây dựng và lắp đặt một cách lâu dài trong lãnh hải, đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa; trong vùng nước quần đảo một cách lâu dài trong lãnh hải, đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa; trong vùng nước quần đảo hoặc những vùng biển quốc tế được điều chỉnh bằng Công ước Luật biển 1982 và luôn được sử dụng nhằm mục đích thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển. Cùng với các đảo nhân tạo, các công trình nhân tạo còn có thể được xây dựng nhằm những mục đích khác, chẳng hạn như nghiên cứu khoa học về biển, giám sát thuỷ triều, cảng hàng không… Theo nghị định thư Barcelona 1994 về Bảo vệ Địa Trung Hải chống lại ô nhiễm do việc thăm dò và khai thác trên thềm lục địa, đáy biển và lòng đất dưới thềm lục địa thì khái niệm “công trình” (installation) được hiểu là “bất kỳ cấu trúc cố định hoặc nổi và bất kỳ phần gắn liền nào của nó được sử dụng vào các hoạt động: (i) các bộ phận thăm dò ngoài khơi cố định hoặc di động; (ii) các bộ phận sản xuất bao gồm các bộ phận có vị trí động; (iii) các hệ thống kho bãi ngoài khơi bao gồm các tàu thuyền sử dụng cho mục đích đó; (iv) các cảng phục vụ việc bốc dỡ và hệ thống vận chuyển các sản phẩm được chiết xuất như các ống dẫn ngầm; (v) hệ thống máy móc gắn liền với chung và các thiết bị nhằm mục đích bốc xếp, sản xuất, lưu trữ và tiêu huỷ các chất được lấy lên từ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển [11].
Theo quan điểm của các luật gia, chúng ta có thể hiểu khái niệm “công trình nhân tạo” theo những tiêu chí sau đây: Thứ nhất, chúng là các công trình nhân tạo do con người xây dựng, lắp đặt và sử dụng trên biển, vì vậy chúng phân biệt với các thực thể được tạo ra trên biển bởi sự kiến tạo thiên nhiên. Những thực thể này đáp ứng tiêu chuẩn của đảo tự nhiên được quy định trong UNCLOS 1982 bởi yếu tố “một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”. Về vấn đề này, chúng cũng không gặp nhiều rắc rối về mặt định nghĩa, bởi lẽ các thiết bị và công trình là sản phẩm của con người, thông qua kỹ thuật và công nghệ. Thứ hai, các công trình nhân tạo tồn tại và hoạt động trên biển có sự gắn kết 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vật chất với đáy biển một cách trực tiếp (như những công trình, thiết bị được xây dựng, lắp đặt trên hạ tầng đáy biển, chúng có sự gắn bó hữu cơ với đáy biển) hoặc gián tiếp (như được xây dựng, lắp đặt trên một bãi cạn, đá hoặc đảo những đảo này là đảo tự nhiên hoặc được tạo ra bởi con người, trong trường hợp này, chúng gắn kết hữu cơ với đáy biển thông qua phần đất của đảo).
Mặc dù vậy, các công trình nhân tạo không phải là các thực thể đáp ứng tiêu chí của “đảo” theo luật quốc tế. Với đặc điểm này, “công trình nhân tạo” có sự gắn bó mật thiết với khái niệm “đảo nhân tạo” (artificial islands) và việc lắp đặt và sử dụng chúng thường đi liền với việc lắp đặt, sử dụng các đảo nhân tạo, đồng thời chúng cũng có thể được coi là một dạng “đảo nhân tạo”. Thứ ba, về vị trí và quy chế pháp lý, các công trình nhân tạo bao gồm những loại do một quốc gia xây dựng, lắp đặt trong các vùng biển của mình; trên vùng biển của quốc gia khác và trên vùng biển quốc tế. Chúng cũng có thể bao gồm những công trình, thiết bị được xây dựng lắp đặt trong vùng biển chồng lấn (các bên tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán).
Quy chế pháp lý của những công trình nhân tạo này được điều chỉnh bởi: (i) pháp luật quốc gia, thông thường là luật của quốc gia ven biển, và (ii) pháp luật quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982 và các văn kiện pháp lý liên quan đến hoạt động hàng hải, hàng không, nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường biển, các điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia hữu quan về các vấn đề tương ứng và tập quán quốc tế liên quan. Thứ tư, các công trình nhân tạo được các quốc gia xây dựng và lắp đặt với nhiều mục đích khác nhau, trong đó chủ yếu là vì mục đích kinh tế (thăm dò, khai thác, bảo tồn, quản lý đối với các nguồn tài nguyên trong các vùng biển thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền), điều phối giao thông hàng hải, giám sát và bảo vệ môi trường biển, an ninh, quốc phòng… Theo cách phân loại của Papadakis thì các công trình nhân tạo được phân loại dựa vào mục đích sử dụng của nó, bao gồm: các thành phố trên biển; các đảo nhân tạo vì mục đích phát triển kinh tế; các công trình phục vụ giao thông và liên lạc; các công trình phục vụ nghiên cứu khoa học và dự báo thời tiết; các công trình 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải trí và sau cùng là các công trình quân sự. Do vậy, thuật ngữ “công trình nhân tạo” bao gồm các phương tiện được xây dựng và lắp đặt nhằm tận dụng tất cả các nguồn lợi về kinh tế ở trong lòng biển và dưới đáy biển. Cũng vì vậy mà các công trình nhân tạo nhằm mục đích quân sự không được đề cập trong phạm vi của UNCLOS 1982.
Nếu nhìn vào từng phân loại một, chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng tình trạng pháp lý của chúng khác nhau. Đây là một trong những lý do tại sao không có một định nghĩa nào về đảo nhân tạo trong Công ước Luật Biển 1982 và do đó UNCLOS đã đơn giản là né tránh những phức tạp nảy sinh từ vấn đề định nghĩa đảo nhân tạo. Nhưng mặt khác, những kẽ hở còn lại trong Công ước Luật Biển vẫn làm phức tạp vấn đề liên quan đến quy chế pháp lý của đảo nhân tạo [32]. Khái niệm “đảo nhân tạo” trong Luật quốc tế Mặc dù chủ đề chính của đề tài luận văn này là công trình nhân tạo nhưng chúng ta vẫn đi sâu tìm hiểu về khái niệm đảo nhân tạo (artificial islands).
Bởi lẽ hai khái niệm này có sự liên hệ mật thiết với nhau. Trong nhiều trường hợp, “đảo nhân tạo” và “công trình nhân tạo” là cùng tồn tại hoặc được coi là một. Tuy nhiên, chúng có bản chất và mục đích hoàn toàn không đồng nhất. Vì thế, chúng có thể được sử dụng nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau.
Có rất ít văn bản trong luật quốc tế giải thích rõ về đảo nhân tạo. Dường như vấn đề liên quan tới đảo nhân tạo đã bị lãng quên khi Công ước Luật biển năm 1982 được thông qua. Trước đó tại hội nghị Giơnevơ 1958 các nước đã đưa ra được một định nghĩa thống nhất về đảo, theo đó: “Đảo là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”. “Sự hình thành tự nhiên” là nội dung mới được bổ sung vào định nghĩa đảo trong Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp.
Yếu tố này đưa ra nhằm phân biệt đảo tự nhiên với đảo nhân tạo, hạn chế trường hợp những quốc gia có khoa học kỹ thuật phát triển xây dựng các đảo nhân tạo để thực hiện tham vọng lấn chiếm biển của mình. Đến những thập niên 1970, 1980 đã có những bài báo, sách viết về lĩnh vực này, thậm chí trong Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS III), một số quốc gia cũng đã đệ trình đề xuất liên quan tới đảo nhân tạo [9] nhưng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.