Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hưng Yên là một trong những trung tâm di sản lớn tại vùng đồng bằng sông Hồng, hiện đứng thứ hai trên cả nước về số lượng di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia. Tọa lạc tại cửa ngõ dẫn vào quần thể di tích Phố Hiến, đền Tân La thuộc địa bàn xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên – vùng đất có diện tích tự nhiên 395,82 ha cùng quy mô dân số 6.831 người phân bố tại 5 thôn truyền thống. Ngôi đền có khuôn viên rộng khoảng 7.000 m2, được khởi dựng nhằm phụng thờ Đông Nhung Đại tướng quân Bát Nàn Vũ Thị Thục – vị nữ tướng kiệt xuất trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giai đoạn năm 40 đến 43 sau Công nguyên. Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa và Nghệ thuật cấp Quốc gia vào ngày 25 tháng 01 năm 1991.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là phân tích quá trình biến đổi lịch sử của đền Tân La và sự chuyển dịch chức năng của không gian thiêng này trong đời sống đương đại. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc hệ thống hóa các mốc biến chuyển về kiến trúc, cấu trúc điện thần và thực hành lễ hội, từ đó đánh giá tác động toàn diện của di tích đối với đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng cư dân địa phương. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại không gian xã Bảo Khê từ trước năm 1986 đến năm 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn di sản, đồng thời hỗ trợ định hướng phát triển làng nghề hương xạ Cao Thôn đạt doanh thu từ 2,5 đến 3,0 tỷ đồng mỗi năm và thúc đẩy khu vực thương mại dịch vụ chiếm trên 40% tổng sản lượng kinh tế toàn xã.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa làm nền tảng chủ đạo để lý giải sự vận động của thiết chế tín ngưỡng dưới tác động của các điều kiện lịch sử, chính trị và kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, lý thuyết chức năng cấu trúc trong tôn giáo học được khai thác nhằm phân tích vai trò liên kết cộng đồng, cân bằng tâm lý và điều tiết hành vi xã hội của ngôi đền đối với cư dân làng xã. Lý thuyết không gian thiêng cũng được tích hợp để làm rõ sự phân định giữa ranh giới thiêng liêng của di tích và không gian sinh hoạt trần thế của đời sống dân sinh.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu bao gồm: tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ của người Việt, hiện tượng "Tứ phủ hóa" (quá trình tích hợp nhân thần lịch sử vào hệ thống thần điện thờ Mẫu), không gian văn hóa làng xã Bắc Bộ và di sản văn hóa phi vật thể. Khung phân tích tập trung khảo sát mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố: di tích vật thể (kiến trúc, cảnh quan), di sản phi vật thể (thần tích, nghi lễ, lễ hội) và chủ thể văn hóa (cộng đồng cư dân sở tại, ban quản lý, thanh đồng và du khách hành hương).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa tài liệu thành văn và dữ liệu điền dã thực địa. Quá trình khảo sát thực địa được triển khai liên tục trong thời gian 14 tháng (từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016), đặc biệt tập trung cao độ vào dịp lễ hội truyền thống tháng 3 âm lịch các năm 2015 và 2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp quan sát tham dự trực tiếp tại 18 buổi sinh hoạt nghi lễ, 6 khóa lễ hầu đồng và 2 kỳ lễ hội lớn tại đền Tân La cùng các di tích liên quan như đình Đoàn Thượng, đình Tiền Thắng và chùa Hoàng Bà.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với 45 cá nhân theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Mẫu nghiên cứu được cơ cấu chặt chẽ gồm: 5 cán bộ văn hóa và lãnh đạo địa phương, 2 thủ nhang quản lý đền qua các thời kỳ, 10 bô lão cao niên nắm giữ tri thức dân gian, 12 thanh đồng và cung văn thực hành tín ngưỡng, 8 hộ kinh doanh sản xuất hương xạ Cao Thôn và 8 khách thập phương về tham dự lễ hội. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Văn hóa học, Lịch sử học và Xã hội học văn hóa là nhằm bảo đảm tính khách quan, cho phép đối sánh nguồn sử liệu thành văn từ 12 công trình địa chí, hồ sơ di tích với ký ức truyền miệng của cư dân, từ đó giải mã chính xác quy luật biến đổi cấu trúc điện thần qua các mốc lịch sử năm 1928, 1975, 1991 và 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự chuyển biến mạnh mẽ về cấu trúc không gian kiến trúc và điện thần của đền Tân La qua hai giai đoạn trước và sau năm 1986. Trước năm 1986, đền có quy mô nhỏ gồm 3 gian Tiền tế và 1 gian Hậu cung, điện thần thuần túy tôn thờ Mẫu bản đền Đông Nhung Vũ Thị Thục cùng Mẫu Cửu Trùng Thiên thờ lộ thiên. Sau mốc đổi mới năm 1986 và đặc biệt sau đợt trùng tu năm 2012 thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia, ngôi đền đã mở rộng diện tích nội tự lên 4 tòa (Tiền tế, Trung từ, Ống muống, Hậu cung) và xây dựng mới đền Công Đồng vào năm 2010, tích hợp đầy đủ hệ thống tượng pháp Tứ phủ như Tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị Tôn ông, Tứ phủ Quan Hoàng, Lầu Cô Bơ và Lầu Cô Chín.

Thứ hai, mô hình quản lý và tổ chức thực hành nghi lễ có sự dịch chuyển từ thiết chế tự quản truyền thống sang mô hình phối hợp hiện đại. Từ năm 1991, Ban Quản lý di tích gồm 5 thành viên do Ủy ban nhân dân xã phân công đã chính thức tiếp nhận vai trò điều hành. Tần suất sinh hoạt nghi lễ tăng từ các ngày sóc, vọng đơn thuần lên hơn 30 khóa lễ hầu đồng mỗi năm, bao gồm các nghi thức mở phủ, khất đồng, tiễn căn và đại lễ tất niên vào ngày 26 tháng Chạp.

Thứ ba, đền Tân La giữ vai trò hạt nhân kích thích kinh tế địa phương thông qua mối liên kết cộng sinh với làng nghề hương xạ Cao Thôn. Làng nghề được công nhận tiêu chí năm 2009, hiện giải quyết việc làm cho 900 đến 1.000 lao động lúc nông nhàn với mức thu nhập từ 2,8 đến 3,5 triệu đồng mỗi tháng, tạo ra sản lượng xấp xỉ 10 triệu nén hương mỗi năm. Sự kết hợp giữa du lịch tâm linh và tiêu thụ sản phẩm truyền thống đã thúc đẩy doanh thu tiểu thủ công nghiệp toàn xã năm 2015 đạt 25,3 tỷ đồng, đưa thu nhập bình quân đầu người của xã đạt mức 28 triệu đồng/năm.

Thảo luận kết quả

Sự biến đổi của đền Tân La phản ánh quy luật thích ứng của di sản văn hóa trước làn sóng đô thị hóa và nền kinh tế thị trường. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ chính sách tự do tín ngưỡng sau năm 1986, tạo điều kiện cho quá trình "Tứ phủ hóa" diễn ra nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh đa dạng của người dân đô thị và thương nhân kinh doanh ven đô. Kết quả nghiên cứu có sự tương đồng sâu sắc với các kết luận khoa học của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khi nhận định về xu hướng dung hợp tôn giáo tại đồng bằng Bắc Bộ, nơi nhân thần lịch sử dần được nâng lên vị trí Thánh Mẫu quyền năng.

                    TIẾN TRÌNH BIẾN ĐỔI ĐIỆN THẦN ĐỀN TÂN LA

Dữ liệu nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu không gian và kinh tế có thể được trình bày một cách trực quan thông qua bảng đối sánh diện mạo điện thần trước và sau năm 1986, kết hợp biểu đồ cơ cấu kinh tế thể hiện rõ tỷ trọng khu vực dịch vụ - thương mại chiếm trên 40% trong cơ cấu kinh tế toàn xã. Việc phân tích định lượng này khẳng định đền Tân La không còn là một thiết chế tín ngưỡng khép kín của làng Việt cổ mà đã trở thành điểm tựa văn hóa - kinh tế mở cho toàn vùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy chế thực hành nghi lễ tín ngưỡng tại di tích. Ủy ban nhân dân xã Bảo Khê cần phối hợp với Ban Quản lý di tích ban hành bộ quy tắc ứng xử nội bộ, tăng cường kiểm soát 100% các khóa lễ hầu đồng nhằm ngăn chặn hiện tượng thương mại hóa, đốt vàng mã tràn lan hoặc mê tín dị đoan, hoàn thành trong giai đoạn 2026-2027.

Thứ hai, xây dựng chuỗi liên kết du lịch văn hóa tâm linh gắn với làng nghề truyền thống. Ủy ban nhân dân thành phố Hưng Yên chủ trì đề án kết nối đền Tân La với làng nghề hương xạ Cao Thôn và quần thể di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến dọc tuyến Quốc lộ 39A. Mục tiêu đặt ra là thu hút lượng khách thập phương tăng trưởng 20% đến 25% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2028.

Thứ ba, đẩy mạnh số hóa và bảo tồn tư liệu khoa học về di sản. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên cần phối hợp cùng Bảo tàng tỉnh triển khai số hóa 100% hệ thống văn bia, thần tích, sắc phong phục dựng và các làn điệu hát văn cổ truyền tại đền Tân La, xây dựng cơ sở dữ liệu số hoàn tất trước quý IV năm 2027.

Thứ tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan môi trường di tích. Ban Quản lý di tích xã Bảo Khê cần quy hoạch mở rộng bãi đỗ xe đạt diện tích 1.500 m2, cải tạo lòng hồ bán nguyệt, chỉnh trang hệ sinh thái cây xanh cổ thụ và lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy đồng bộ, dự kiến hoàn thành nghiệm thu vào năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và tôn giáo học: Công trình cung cấp hệ thống tư liệu thực địa phong phú về tiến trình Tứ phủ hóa và sự biến đổi điện thần của hệ thống thờ nữ tướng Hai Bà Trưng, làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về tín ngưỡng bản địa Bắc Bộ.

Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Luận văn đưa ra mô hình phân cấp quản lý nguồn thu công đức và quy trình tổ chức lễ hội cấp cơ sở, hỗ trợ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di tích lịch sử cấp quốc gia.

Doanh nghiệp du lịch và lữ hành: Nghiên cứu gợi mở giải pháp thiết kế các tour du lịch trải nghiệm văn hóa kết hợp tham quan di tích lịch sử và trải nghiệm quy trình làm hương thủ công truyền thống 36 vị thuốc Bắc tại thôn Cao.

Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành khoa học xã hội: Tài liệu là minh chứng mẫu mực về phương pháp tiếp cận liên ngành, kỹ năng điền dã dân tộc học và phương pháp xử lý dữ liệu định tính trong nghiên cứu văn hóa đương đại.

Câu hỏi thường gặp

Đền Tân La thờ vị thần nào và có giá trị lịch sử ra sao? Đền Tân La thờ phụng Nữ tướng Vũ Thị Thục (Đông Nhung Đại tướng quân Bát Nàn), người có công phò tá Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán vào năm 40-43 sau Công nguyên. Di tích đánh dấu nơi bà từng đóng quân rèn luyện binh sĩ, được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991.

Hiện tượng Tứ phủ hóa tại đền Tân La thể hiện rõ nhất qua những đặc điểm nào? Hiện tượng này thể hiện qua việc mở rộng thần điện từ sau năm 1986 để phối thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị Tôn ông, Tứ phủ Chầu Bà và Tứ phủ Quan Hoàng, đồng thời đưa nghi lễ hầu đồng thành sinh hoạt tâm linh định kỳ tại đền với hàng chục khóa lễ trong năm.

Lễ hội truyền thống đền Tân La được tổ chức theo quy mô và thời gian nào? Lễ hội chính thức diễn ra từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 3 âm lịch hàng năm nhằm ngày giỗ Mẫu. Cứ 3 năm một lần, làng tổ chức đại lễ rước kiệu liên thôn qua các ngôi đình và chùa Hoàng Bà để rước chân kinh và lấy nước thiêng sông Hồng.

Di tích đền Tân La có đóng góp cụ thể gì cho kinh tế địa phương? Đền Tân La đóng vai trò kích cầu tiêu thụ cho làng nghề hương xạ Cao Thôn với doanh thu 2,5 đến 3,0 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời tạo sinh kế dịch vụ cho hơn 400 hộ dân, đưa tỷ trọng thương mại - dịch vụ chiếm trên 40% cơ cấu kinh tế xã Bảo Khê.

Nguồn thu công đức tại đền Tân La hiện nay được phân định quản lý như thế nào? Tiền công đức và tiền giọt dầu trong 3 ngày lễ hội do Ban Quản lý di tích tiếp nhận nộp về ngân sách xã để phục vụ tu bổ công trình; trong khi tiền giọt dầu ngày thường và lệ phí ghế hầu do thủ nhang quản lý để lo việc đèn nhang cúng lễ.

Kết luận

  • Khẳng định đền Tân La là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tiêu biểu phụng thờ Nữ tướng Bát Nàn Vũ Thị Thục, gắn liền với tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.
  • Minh chứng sinh động cho quá trình biến đổi cấu trúc điện thần từ đơn nhất sang Tứ phủ hóa đa dạng dưới tác động của công cuộc Đổi mới sau năm 1986.
  • Xác lập mối liên kết hữu cơ giữa không gian thiêng di tích và sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của làng nghề truyền thống xã Bảo Khê.
  • Cung cấp mô hình quản trị di sản văn hóa cấp cơ sở hài hòa giữa sự quản lý của nhà nước và vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ nhằm bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản gắn với phát triển du lịch địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về đền Tân La trên cả phương diện lịch sử truyền thống và thực hành đương đại. Định hướng tiếp theo cần tập trung hoàn thiện số hóa di sản và kết nối hạ tầng du lịch di sản trong giai đoạn 2026-2028. Các cơ quan quản lý và cộng đồng học thuật hãy cùng chung tay bảo tồn, phát huy bền vững giá trị di sản vô giá này cho các thế hệ mai sau.