Chương 1 TONG QUAN VE CÔNG TÁC XÂY DUNG ĐỊNH MỨC KINH TẾ - KỸ THUẬT TRONG QUAN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Một số khái niệm “Trong thực tiễn sản xuất, quản lý, kinh đoanh chúng ta thưởng gặp khái niệm đình mức. Có thể nói rằng, định mức là một trong những công cụ quan trong và cần thiết trong các hoạt động tổ chức và quản lý mà chính phủ của các quốc gia trên thể giới luôn áp dung. Ở Việt Nam công tác lập va áp dụng các định mức khác nhau .được Chính phủ công bé hoặc hướng dẫn xây dựng, áp dung, nhắm kiểm soát các hoạt động kinh tế của đất nước.
Về hoạt động xây dựng, quản lý và áp dụng định mức được chia thành các loại sau: Dinh mức Nhà nước: Loại định mức nảy do Nhà nước ban hành và được áp dụng chung cho các bộ, ngành, các cấp, được quy định cho những sản phẩm hoặc công việc chủ yếu, do Nhà nước thống nhất quản lý, có liên quan đến những hoạt động chung của toàn bộ nén kinh tế quốc dân; - Định mức áp dụng trong từng ngành: Định mức áp dụng trong từng ngành được quy định cho những sản phẩm hoặc công việc trong trường hợp khi chưa có định mức Nhà nước, khi edn cụ thể hóa định mức Nhà nước, hoặc cho những sản phẩm hoặc công việc của ngành được "Nhà nước phân cấp quản lý; Định mức tỉnh, thành phố và đặc khu trục thuộc Trung ương: Đây là loại định mức được áp dung trong phạm vi đơn vị hành chính một tỉnh (hoặc thành phố và đặc khu trực thuộc Trung wong), được quy định cho những sản phẩm hoặc công việc khi chưa có định mức Nhà nước, định mức ngành; khi cin cụ thể hóa định mức Nha nước, định mức ngành: hoặc cho những sản phẩm hoặc công việc của tỉnh, được phân cắp quản lý: - Định mức huyện, quận và thành phó, thị xã trực thuộc tỉnh: Bay là loại định mức được xây dựng 4p đụng trong phạm vi huyện (quận hoặ thành phố, thị xã trực thuộc tinh) được quy định cho những sản phẩm hoặc công, việc trong khi chưa có định mức Nhà nước, định mức ngành, định mức tỉnh, thành phố hoặc khi can cụ thé hod định mức của cắp trên, hoặc cho những sản phẩm (công. việc) của huyện (quận hoặc thinh phổ, xã trục thuộc tỉnh) được phân cấp quản ~ Định mức đơn vị cơ sở (định mức nội bộ). Định mức đơn vị cơ sở còn gọi là định mức nội bộ áp dụng trong từng đơn. vi cơ sở được quy định cho những sin phẩm (công việc ) khi chưa có định mức Nhà nước, định mức ngành, định mức địa phương; khi cần cụ thể hoá định mức của cấp.
trên: hoặc cho những sản phẩm (công việc) của đơn vị sơ sử sản xuất được phân cấp quản lý Đỉnh mức theo ting la tỉnh là norm, trong thực tiễn định mức còn có các từ tương đương như tiêu chuẳn, chuẩn mực, hạn ngạch. Định mức có mặt trong nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế, chính trị, pháp luật, tôn giáo, phong tục, tập quán, đạo đức, thẩm mỹ,. ví dy, trong thực tế gặp các câu nói “cin bộ X hoàn thành vượt mức công tác đặt ra trong ngày” 1g nhân Y hoàn thành vượt mức sản lượng”: "Lãnh đạo B cư xử với mọi người rit đúng mức": “DSi tượngA đđã được hạ mức án từ 10 năm xuống 7 năm”, Như vậy, định mức không chỉ là phạm tri có thể định lượng được mà có thể là phạm tr định inh, Định mức xuất hiện trong hoạt động sin xuất kin doanh và trao đổi hàng hóa của con người được gọi là mức kính tế - ky thuật, theo cách gọi thông dụng hiện nay là định mức kinh tế kỹ thuật Trong thực tiễn xây dựng, quản lý và áp dụng định mức, chúng ta thường gập các khái niệm định mức sau: LLL Định mức lao động “Trong hoạt động lao động sản xuất của con người, muốn cho quá inh sản xuất tập thể của họ đạt đươc kết quả cao, thì người quản lý hình phải biết kết hợp một cách ốt nhất 3 yếu tổ cơ bản của sản xuất là: sức lao động; công cụ lao động và đối tượng lao động. Ngoài ra, người quản lý còn cẩn phải có kiến thức «6 chức và định mức tốt các quả trinh lao động cũ họ Khi trình độ sản xuất xã hội ngảy cảng phát triển, thì công tác tổ chức và đình mức lao động cảng cin phải đựa trên cơ sở khoa học chặt chẽ hơn và cảng cần được quan tâm ở mức cao hơn và đáp ứng ngày một kịp thời hơn.
Lịch sử phát triển xã hội loài nười cho thấy, ở hồi kỳ, khi mà lao động của con người còn là thi công và mức độ cơ giới hoá, xã hội hoá lao động chưa cao, thì chỉ cần dựa vào kinh nghiệm của người quản lý đã có thể tổ chức lao động tốt, còn khi lao động của con người din được cơ khí hỏa, quy mô sản xuất ngày cảng lớn, mức độ xã hội hoá lao động ngày cảng cao thì công tác tổ chúc và định mức lao động trở nên ngày càng ‘quan trọng và trở thành một bộ phận không thể tách rời của tổ chức sản xuất, một hoạt động không thẻ thiểu của bắt cứ một tô chức xã hội nào. Xay dung định mức lao động trong các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp là lĩnh vực hoạt động thực tiễn dy dựng, và thực hiện các mức lao động trong tất cả các dạng hoạt động lao động. Dựa vào phương pháp xây dựng mức, ta có thể phân định mức lao động thành hai nhóm chính là ~_ Định mức lao động khoa học Là những định mức lao động được xây dựng trên cơ sở những phương pháp Khoa học như khảo sát thực địa quan sắt chụp ảnh, bm thời gian làm vige, rồi dùng toán học để tinh toán chính xác thời gian lao động bao phí. Định mức lao động được xây dựng có tinh toán và đề cập tới điều kiện tổ chức kỹ thuật trình độ tổ chức lao động và các yêu tổ về điều kiện lao động, tâm sinh lý của con người cụ thể.
Do yêu cầu về tinh chính xác cao, nền để xây dựng được loại mức này, phai đồi hỏi thời gian, công sức và phương tiện lớn, khối lượng tính toán nhiều, chính vì thế, phương. pháp này thường được xây dung và áp dụng trong các nhi máy công nghiệp có tính chuyên môn hóa cao, dây chuyển sản xuất và công nghệ ôn định, nhiều bước công việc trong diy chuyển, hao phí thời gian mỗi bước công việc nhỏ, = Định mức thẳng kê kinh nghiệm: Định mức thống kê kinh nghiệm được xây dựng trên cơ sở những tài liệu thông kê, những mức dién hình tiên tiền, va kinh nghiệm của người lập dựng mức. VỀ mặt chất lượng, những định mức này có tinh độ chính xác không cao, nhưng trong thực tế nó lại được áp dụng khá phổ biến cho những công việc mức én định. thấp chu kỳ đãi nơi lim việt thường xuyên thay đổi.
Những doanh nghiệp mã trình độ kỹ thuật, điều kiện sản xuất không ổn định “rong thực tẾ người la thường xây dựng và áp dụng các loại định mức lao động sau đây: mức thời gian: mức sản lượng; mức số lượng người làm việc: mite phục vụ: mức quản lý. Tuy thuộc vào từng công việc cụ thé của các đơn vị sản xuất cụ thể mà người ta chọn phương pháp và mức lao động thích hợp để áp dụng, với mỗi doanh nghiệp do chức năng đảm nhận khác nhau trong quá trình sản xuất của sắc dạng, loại công việc mà có thể cỏ nhiều loại mức lao động khác nhau, Từ những khái niệm trên, có thể hiểu định mức lao động chính là thước đo chất lượng và số lượng lao động để hoàn thành một công việc, một sin phẩm ứng với một quá tình sản xuất cụ thể một điều kiện tổ chức sản xuất eu thé. Dựa vào định mức mà người ta xác định được giá thành sin phẩm, kế hoạch về lao động tiễn lương của xí nghiệp tổ chức lao động và sản xuất một cách hợp lý và khoa học 'Việc áp dụng mức lao động vào sản xuất sẽ khuyến khích người lao động phan đấu. nàng cao trình độ tay nghề phát huy sing kiến cải tiến kỹ thuật, tự giác trong việc phin đấu hoàn thành định mức, tiết kiệm thời gian lao động và những yếu tổ vật chit khác của sàn xuất, đây chính là tiền đề quan trong để nâng cao năng suit lao động và hạ giá thành sản phẩm, ting cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, một mục tiêu hat sức quan trong trong quân lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Thực trạng quản lý sản xuất quản lý lao động ở các doanh nghiệp khai thác sông trình thuỷ lợi nói chung còn lòng léo và côn nhiễu khiếm khuyết.
Nguyên nhân chính của những tồn tại này lại chính là do các doanh nghiệp chưa làm tốt công tác tổ chức và định mức lao động những tập mức được quy định thống nhất chung của nhà nước ban hành đã quổ lạc hậu so với yêu cầu và những biến đổi của thực tiễn sin xuất ở các xí nghiệp hơn nữa khi áp dụng những mức đó vào sin xuất gây nhiều khó khăn cho công tác định mức. Nguyên nhân chính là do những mức đồ chưa để cập hết đến thực trạng tổ chức kỹ thuật và những đặc điểm riêng biệt của từng doanh nghiệp. Mot vin đề khác cũng cin phải để cập tới kh phân tích những tồn ti trên đồ là công tác xây dựng và áp dụng mức vào sản xuất ở ta từ trước tới nay, nhất là ở sắc doanh nghiệp thuỷ nông chưa được quan tâm một các đúng mức đó chính là kết quả của một thời gian di hoạt động trong cơ chế hành chính quan liều bao cấp, hạch toán lỗ lãi trong sản xuất của các đơn vị mang tinh hình thức, các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn trông chờ ÿ lại cấp trên. Hiện nay Dàng và nhà nước ta đã mở ra cho các xí nghiệp hướng làm ăn mới là mỡ rộng quyền chủ động trong sản xuất.
và kinh doanh của các xi nghiệp. Các xi nghiệp phải chuyển sang hạch toán kinh tế, Với cách làm ăn mới này chúng ta tin rằng năng lục của mỗi xí nghiệp sẽ được thể hiện rõ hon. tuy vậy không thể ngay một lúc chúng ta có thé áp dụng hạch toán. kinh tế và các xí nghiệp , mà công việc này đồi hoi phải có một quá trình và những điều kiện tiền đề nhất định.