mở đầu bài học, tư liệu tham khảo, câu hỏi, chú thích,. 15 download by : skknchat@gmail.com - Kênh hình bao gồm hình ảnh, tranh vẽ, bản đồ, sơ đồ, đồ thị,… Tùy vào mục đích sử dụng, kênh hình được chia thành 5 loại: loại minh họa để cụ thể hóa nội dung một sự kiện quan trọng; loại cung cấp thông tin; loại vừa cung cấp thông tin vừa minh họa cho kênh chữ; loại để rèn luyện kĩ năng thực hành, kiểm tra kiến thức hay còn gọi là loại bài tập thực hành. “Cách phân chia nội dung theo kênh hình và kênh chữ mới chỉ nhấn mạnh về mặt thông tin để HS nhận thức, nội dung bài học chứ chưa làm rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi phần trong SGK Lịch sử” [9; tr. Có lẽ vì thế việc sử dụng SGK mới chỉ dừng lại ở việc đọc, nhìn đơn thuần, hạn chế phát triển năng lực người học.
Quan niệm thứ hai: SGK bao gồm hai phần là bài viết và cơ chế sư phạm. Quan điểm này thế hiện được tính sư phạm của việc biên soạn và sử dụng SGK. - “Bài viết” “tức là nội dung cơ bản của chương trình được trình bày ngắn gọn trong một số trang cho mỗi tiết học, chỉ dẫn về phương pháp học tập về đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của học sinh” [9; tr. - “Cơ chế sư phạm” “chỉ tất cả những thành tố trong SGK, trừ bài viết, dành cho một tiết học.
Đây là bộ phận chủ yếu của sách giáo khoa mà học sinh phải nghiên cứu, nắm vững kiến thức cơ bản được lựa chọn phù hợp với yêu cầu học tập” [9; tr. “Cơ chế sư phạm” là một thành tố quan trọng trong SGK Lịch sử, do đó cần phải đầu tư chú trọng lựa chọn tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, tài liệu tham khảo… Mặc dù các quan niệm khác nhau về cấu trúc nhưng tựu chung lại, hai quan điểm đều thể hiện tất cả các thành tố trong SGK đều thực hiện chức năng bồi dưỡng nhận thức, phát triển năng lực và giáo dục nhân cách,. Cách phân chia thứ hai dễ được chấp nhận hơn vì thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần của SGK. “Phần bài viết” là nội dung chủ yếu, được trình bày ngắn gọn 16 download by : skknchat@gmail.com mà HS cần nghiên cứu, “phần cơ chế sư phạm” bổ sung, cụ thể hóa bài viết, kiểm tra đánh giá quá trình nhận thức của HS.
Tỉ lệ phần “bài viết” với phần “cơ chế sư phạm” phải tùy thuộc vào lứa tuổi, trình độ nhận thức của HS. Ở các lớp THCS, phần tranh ảnh có thể tăng hơn so với các lớp THPT, ngoài ra cần tăng thêm tư liệu, sơ đồ, biểu đồ, đồ dùng trực quan bên cạnh phần bài viết. Xuất phát điểm của vấn đề 1. Mục tiêu và nhiệm vụ bộ môn Lịch sử ở trường THCS Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 25/12/2001 đã nêu: “Mục tiêu của Giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11; tr.
Mục tiêu bộ môn Lịch sử trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, quán triệt đường lối và quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và sử học. Từ mục tiêu môn học, đối với bậc THCS sẽ giúp “HS có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, làm cơ sở bước đầu cho việc hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, tạo cho học sinh các năng lực tư duy, hành động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [24; tr. Lịch sử với tư cách của một môn khoa học xã hội góp phần: - Về kiến thức: đối với phần Lịch sử dân tộc mục tiêu chính là nhận biết được quá trình phát triển lịch sử dân tộc với những sự kiện, nhân vật nổi bật, có chọn lọc của từng thời kì. Đối với phần Lịch sử thế giới, mục tiêu là nhận biết những sự kiện chính của lịch sử xã hội loài người từ nguồn gốc đến nay.
17 download by : skknchat@gmail.com Sở dĩ đây được coi là kiến thức nền tảng vì những kiến thức này sẽ được củng cố, mở rộng, làm sâu sắc hơn trong bậc học THPT. - Về kĩ năng: Thông qua bộ môn Lịch sử, HS từng bước hình thành những kĩ năng chung và kĩ năng chuyên biệt trong môn học: Tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử; thực hành bộ môn; liên hệ kiến thức với thực tiễn; thể hiện quan điểm cá nhân về các vấn đề lịch sử,… góp phần thực hiện mục tiêu “hình thành năng lực phát hiện, đề xuất, giải quyết vấn đề trong dạy học Lịch sử”. - Về thái độ: HS bước đầu hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm trên cơ sở nội dung kiến thức cụ thể. Đối với dân tộc, góp phần giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, giữ gìn giá trị truyền thống, tin tưởng vào XHCN.
Đối với thế giới, giáo dục tinh thần đoàn kết quốc tế, hữu nghị giữa các dân tộc, yêu chuộng hòa bình, căm ghét chiến tranh. Đạt được điều này là ghi dấu vào tâm hồn mỗi người, góp phần tạo nên những phẩm chất tốt đẹp của công dân Việt Nam. Như vậy, mục tiêu của môn Lịch sử là “dạy chữ để dạy người” học Lịch sử không chỉ tiếp nhận những kiến thức cơ bản về quá khứ của dân tộc của thế giới mà còn hướng đến phát triển những năng lực chủ chốt cho người học như năng lực nêu và giải quyết vấn đề, năng lực nhận thức và tư duy lịch sử, năng lực tự học,… Qua đó giáo dục nhân cách, tư tưởng, thái độ cư xử đúng đắn trong xã hội. Đặc trưng của kiến thức Lịch sử ở trường THCS Tính quá khứ: Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử đều đã xảy ra và nó mang tính quá khứ, do đó người ta không thể trực tiếp quan sát lịch sử quá khứ mà chỉ có thể tìm hiểu chúng thông qua tư liệu, hiện vật lịch sử hoặc dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự đang diễn ra để tham khảo.
Do tính quá khứ sẽ khiến việc giảng dạy Lịch sử có những khó khăn nhưng cũng đem lại những ưu thế riêng của môn Lịch sử như: phát triển, bồi dưỡng trí tưởng tượng tái tạo, khả năng tư duy của HS,… 18 download by : skknchat@gmail.com Tính không lặp lại: Mỗi sự kiện lịch sử xảy ra gắn với một không gian và thời gian nhất định. Không có sự kiện lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau mà lại hoàn toàn giống nhau; nếu có điểm giống nhau đó chính là sự kế thừa, phát triển. Do đó trong giảng dạy, khi trình bày một sự kiện lịch sử cần phải xem xét cụ thể cả về không gian và thời gian nảy sinh sự kiện đó. Tính cụ thể: Lịch sử của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang những đặc điểm riêng do đặc điểm kinh tế, chính trị, giáo dục khác nhau.
Chính đặc điểm này đòi hỏi sự trình bày lịch sử một cách rõ ràng, cụ thể, phản ánh được những đặc điểm riêng biệt của mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy có sự khác biệt, sự phát triển lịch sử của các dân tộc đều không nằm ngoài quy luật phát triển của xã hội. Tính hệ thống (tính logic lịch sử): không có sự kiện Lịch sử nào đơn lẻ mà luôn có mối liên hệ với các sự kiện trước, sau và đồng thời với chúng. Khoa học Lịch sử bao gồm những nội dung tri thức phong phú, đa dạng: từ cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội đến quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng,… Điều này đòi hỏi người GV khi giảng dạy Lịch sử luôn phải chú ý đến mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử để HS hiểu được mối quan hệ và bản chất cốt lõi của vấn đề.
Tính thống nhất giữa sử và luận: “Lí luận lịch sử cũng như quan điểm lịch sử trước khi có chủ nghĩa Mác, cơ bản đều xuất phát từ lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột” C. Mác và Ăng-ghen đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, vận dụng nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng vạch ra quá trình chung của sự phát triển tuần tự các hình thái kinh tế xã hội, hai ông đã chứng minh rằng “lao động sản xuất và đấu tranh giai cấp là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của xã hội” [9; tr. Từ đó, sử học mới trở thành một khoa học chân chính. Xuất phát từ đặc trưng bộ môn Lịch sử mà trong quá trình giảng dạy của GV và quá trình học tập của HS: nội dung bài viết, hình ảnh, sơ đồ, lược đồ,… 19 download by : skknchat@gmail.com trong SGK có tác động rất lớn đến quá trình HS tưởng tượng tái hiện bức tranh trong quá khứ, từ đó giúp các em tìm hiểu và phát hiện bản chất cốt lõi của vấn đề.
Vì vậy, việc biên soạn SGK đổi mới, chú trọng đến thẩm mỹ và những đặc điểm đặc trưng của môn Lịch sử là rất cần thiết. Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử * Đặc điểm tâm lý Học sinh THCS đang ở “tuổi thiếu niên từ 12 - 15 tuổi: Hoạt động chủ đạo của tuổi này là hoạt động giao tiếp nhóm bạn. Đây là tuổi vươn lên làm người lớn, trẻ muốn được đối xử như người lớn, hình thành nhiều phẩm chất tâm lý mới như nhu cầu tình bạn, khả năng tự ý thức, năng lực đánh giá” [16; tr. Lứa tuổi này có vị trí phát triển quan trọng trong cuộc đời mỗi con người, là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi trưởng thành.
Do sự khác biệt về lứa tuổi, tâm lý, nhận thức nên việc biên soạn SGK cũng cần đổi mới cho phù hợp với đặc điểm và động cơ học tập của các em. Sự thay đổi của môi trường học tập, chương trình học tập cũng tác động đến tâm lý của các em. Đến thời kỳ này, HS được tiếp xúc với nhiều môn học, mỗi môn học lại cung cấp những khối lượng thông tin đa dạng khác nhau điều này đòi hỏi phải tìm ra phương pháp học tập phù hợp.