Luận văn thạc sĩ về đề làm văn theo hướng mở cho học sinh THPT tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Khám phá luận văn thạc sĩ về định hướng ra đề làm văn mở cho học sinh trung học phổ thông, nâng cao kỹ năng viết và tư duy sáng tạo.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2012

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2. ĐỀ XUẤT CÁC HƯỚNG RA ĐỀ THEO HƯỚNG MỞ

3. THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM

4. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đề làm văn mở cho học sinh THPT

Đề làm văn mở là một trong những phương pháp đánh giá năng lực viết của học sinh THPT. Khác với các đề truyền thống, đề mở cho phép học sinh thể hiện quan điểm cá nhân, từ đó phát triển tư duy sáng tạo và khả năng lập luận. Việc áp dụng đề mở trong giáo dục hiện nay không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng viết mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm của đề làm văn mở

Đề làm văn mở là dạng đề cho phép học sinh tự do bày tỏ ý kiến, cảm xúc và suy nghĩ của mình về một vấn đề cụ thể. Đặc điểm nổi bật của đề mở là tính linh hoạt và khả năng khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập.

1.2. Lợi ích của việc sử dụng đề làm văn mở

Việc sử dụng đề làm văn mở giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện, khả năng lập luận và kỹ năng viết. Học sinh có cơ hội thể hiện bản thân và phát triển sự tự tin trong việc trình bày ý kiến cá nhân.

II. Thách thức trong việc ra đề làm văn mở cho học sinh THPT

Mặc dù đề làm văn mở mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc ra đề này cũng gặp không ít thách thức. Giáo viên cần phải cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo rằng đề mở không chỉ thú vị mà còn phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh.

2.1. Khó khăn trong việc thiết kế đề mở

Thiết kế đề mở đòi hỏi giáo viên phải có sự sáng tạo và hiểu biết sâu sắc về nội dung học sinh đã học. Đề mở cần phải rõ ràng, dễ hiểu nhưng cũng phải đủ thách thức để kích thích tư duy của học sinh.

2.2. Sự khác biệt trong khả năng viết của học sinh

Mỗi học sinh có một khả năng viết khác nhau. Việc ra đề mở có thể khiến một số học sinh cảm thấy áp lực, trong khi những học sinh khác lại thấy thú vị. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có chiến lược hỗ trợ phù hợp.

III. Phương pháp ra đề làm văn mở hiệu quả cho học sinh THPT

Để ra đề làm văn mở hiệu quả, giáo viên cần áp dụng một số phương pháp nhất định. Những phương pháp này không chỉ giúp đề mở trở nên hấp dẫn mà còn đảm bảo rằng học sinh có thể phát huy tối đa khả năng của mình.

3.1. Sử dụng các chủ đề gần gũi với học sinh

Chọn các chủ đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày của học sinh sẽ giúp họ dễ dàng kết nối và bày tỏ ý kiến. Điều này cũng giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn với việc viết văn.

3.2. Khuyến khích sự sáng tạo trong cách trình bày

Giáo viên nên khuyến khích học sinh sử dụng các hình thức trình bày đa dạng như thơ, truyện ngắn hoặc bài luận. Điều này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng viết mà còn khơi dậy sự sáng tạo.

IV. Ứng dụng thực tiễn của đề làm văn mở trong giáo dục

Đề làm văn mở không chỉ là một công cụ đánh giá mà còn là một phương pháp giảng dạy hiệu quả. Việc áp dụng đề mở trong giảng dạy giúp học sinh phát triển toàn diện hơn, từ kỹ năng viết đến khả năng tư duy phản biện.

4.1. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của đề mở

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng đề làm văn mở giúp học sinh cải thiện đáng kể kỹ năng viết và khả năng tư duy. Học sinh có xu hướng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập.

4.2. Ví dụ thực tiễn từ các trường học

Nhiều trường học đã áp dụng thành công đề làm văn mở trong các kỳ thi và đánh giá học sinh. Những kết quả tích cực từ các trường này cho thấy đề mở có thể trở thành một phần quan trọng trong giáo dục hiện đại.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của đề làm văn mở

Đề làm văn mở đang dần trở thành một phần không thể thiếu trong giáo dục hiện đại. Với những lợi ích mà nó mang lại, việc áp dụng đề mở sẽ tiếp tục được phát triển và hoàn thiện trong tương lai.

5.1. Tương lai của đề làm văn mở trong giáo dục

Dự báo rằng đề làm văn mở sẽ ngày càng được áp dụng rộng rãi hơn trong các trường học. Điều này sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng viết và tư duy một cách toàn diện.

5.2. Những cải tiến cần thiết trong phương pháp ra đề

Cần có những cải tiến trong phương pháp ra đề để đảm bảo rằng đề mở không chỉ thú vị mà còn phù hợp với trình độ của học sinh. Giáo viên cần được đào tạo để thiết kế đề mở hiệu quả hơn.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một chu trình tiếp theo. Khâu kiểm, tra đánh giá là khâu cuối cùng trong dạy và học. Đây là khâu then chốt, ở khâu này việc ra đề kiểm tra, đánh giá như thế nào cho phù hợp với mục tiêu chương trình là một vấn đề hết sức quan trọng từ đó sẽ quyết định mục tiêu chương trình, cách học cách dạy. Ra đề như thế nào sẽ quyết định cách dạy và cách học như thế.

Vậy là việc ra đề là khâu quyết định quan trọng. Tuy nhiên việc đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây: 1. Đảm bảo tính khách quan, chính xác Phản ánh chính xác kết quả như nó tồn tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đề ra, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá. Đảm bảo tính toàn diện Đầy đủ các khía cạnh, các mặt cần đánh giá theo yêu cầu và mục đích.

Đảm bảo tính hệ thống Tiến hành liên tục và đều đặn theo kế hoạch nhất định, đánh giá thường xuyên, có hệ thống sẽ thu được những thông tin đầy đủ, rõ ràng và tạo cơ sở để đánh giá một cách toàn diện. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đảm bảo tính công khai và tính phát triển Đánh giá được tiến hành công khai, kết quả được công bố kịp thời, tạo ra động lực để thúc đẩy đối tượng được đánh giá mong muốn vươn lên, có tác dụng thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế mặt xấu. Đảm bảo tính công bằng Đảm bảo rằng những học sinh thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực sẽ nhận được kết quả đánh giá như nhau.

Ở đây chúng ta cần phải hiểu thế nào về một đề văn, hiểu một cách thấu đáo cặn kẽ. Đề thi, đề kiểm tra môn học nào cũng phải có yêu cầu sáng tạo nhưng đề thi đề kiểm tra môn Ngữ văn thì yêu cầu sáng tạo lại càng phải được chú ý vì đây là là sáng tạo trong thưởng thức nghệ thuật. Sáng tạo là đổi mới nhưng đổi mới phải dựa trên những căn cứ những tiêu chí và phải bám sát mục tiêu môn học. Ra đề là một hoạt động chuyên môn thường nhật, thường niên của người giáo viên Ngữ văn, việc ra đề làm văn sẽ thể hiện được năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp, sự đam mê tìm tòi sáng tạo của người giáo viên.

Trong quá trình đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục THCS, THPT nói riêng, việc đổi mới được tiến hành từ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội đang phát triển, xu thế hội nhập, giao lưu rộng rãi. Việc đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng và xem như một khâu đột phá quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học cần hình thức kiểm tra tương xứng với nó để tạo ra động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Để đáp ứng những mục tiêu mới của giáo dục, việc kiểm tra, đánh giá cũng phải đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống phức tạp biến động nhanh chóng hiện nay.

Kiểm tra, đánh giá có vai trò ý nghĩa đối với cả học sinh và giáo viên vì qua KTĐG sẽ giúp cho giáo viên giảng dạy, các nhà quản lý giáo dục và bản thân học sinh có những thông tin xác thực để có tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung phương pháp trong quá trình dạy và học điều chỉnh kĩ năng con đường cách thức tiếp nhận. Không đổi mới kiểm tra đánh giá thì tất cả trở nên vô nghĩa. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một mắt xích quan trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo. Kiểm tra đánh giá có hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên có thông tin phản hồi để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy để từ đó nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường phổ thông.

Do yêu cầu đặc trưng bộ môn nên kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn nhằm mục đích đánh giá học sinh một cách toàn diện và rèn luyện cho học sinh về hai kỹ năng rất cơ bản là năng lực đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản, tạo điều kiện cho HS phát triển toàn diện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và xúc cảm thẩm mĩ. Những năng lực này đã được cụ thể hóa trong chuẩn chương trình môn học với những yêu cầu cần đạt trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ. Trong đánh giá môn Ngữ văn, cần lưu ý một số điểm sau: Thứ nhất: Việc đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn trước hết cần phải bám sát mục tiêu môn học, và chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đánh giá. Ở đây cũng cần phải hiểu đúng về chuẩn kiến thức kĩ năng, chuẩn kiến thức kĩ năng tức là yêu cầu tối thiểu phải đạt được, thế nên trong quá trình dạy và học, kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào đối tượng vào đặc trưng cơ bản của 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vùng miền để nâng chuẩn đáp ứng được yêu cầu của học sinh và đòi hỏi của xã hội nghĩa là chương trình khi biên soạn phải làm sao đảm bảo học sinh ở tất cả các vùng miền trong cả nước đều có thể tiếp thu lĩnh hội.

Tuy nhiên, các chuẩn trong chương trình chưa phải là chuẩn đánh giá vì chuẩn đánh giá được hiểu là “biểu hiện cụ thể những yêu cầu cơ bản, tối thiểu của mục tiêu giáo dục mà người học phải đạt được”. Vì thế trước khi ra quyết định kiểm tra, cần hiện thực hoá các mục tiêu và chuẩn yêu cầu cần đạt vÒ kiÕn thøc - kỹ năng từ 3 mạch nội dung Văn học, Tiếng Việt, Làm văn (chuẩn chương trình) vµ cã khi lµ c¶ th¸i ®é x¸c ®Þnh cho mçi néi dung häc tập của môn học thành các tiêu chí đánh giá cụ thể, có thể đo đếm được, phù hợp với năng lực học tập Ngữ văn chung của học sinh và có thể thực hiện được trong thực tế với một khoảng thời gian nhất định. Việc xác định chuẩn đánh giá sẽ là cơ sở để định ra nội dung và hình thức kiểm tra trong môn học, cũng là căn cứ để có thể đo một cách chính xác các mức độ nhận thức và vận dụng của học sinh. Thứ hai: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh được căn cứ trên những đổi mới về nội dung chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS, THPT.

Đối với bộ môn Ngữ văn ở trường THPT đánh giá học sinh ở 3 cấp độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng (trong vận dụng thì có vận dụng thấp và vận dụng cao). Cụ thể như sau: + Theo quan điểm tích hợp, bao gồm 3 xu thế: tích hợp nội dung kiến thức, kỹ năng của ba mạch kiến thức Văn học, Tiếng Việt, Làm văn; tích hợp dạy kiến thức Ngữ văn với rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; tích hợp kiến thức liên môn vào từng bài học, có liên thông và lặp lại ở các bài học khác giáo dục ý thức công dân, giáo dục thái độ kỹ năng sống giáo dục môi trường. + Chú trọng hình thành, phát triển và hoàn thiện cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đặc biệt là qua 4 kỹ năng này hình thành năng lực cảm thụ, năng lực bộc lộ, biểu đạt tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ nói, viết Tiếng Việt cho học sinh; quan tâm hơn đến việc hình thành năng lực đọc văn (đọc hiểu văn bản) và năng lực làm văn (tạo lập, sản sinh văn bản). 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chú trọng giảm kiến thức lý thuyết hàn lâm, tăng những kiến thức, kỹ năng có ý nghĩa và ích dụng cho cuộc sống, dành thời gian cho những vấn đề có tính địa phương, có tính toàn cầu, tăng thời lượng cho việc thực hành nói và viết Tiếng Việt gắn với những vấn đề của thực tiễn đời sống, phù hợp với nhu cầu và khả năng tiếp nhận của HS.

+ Theo tinh thần phát triển các năng lực thiết yếu ở người học như năng lực tự học, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực tự khẳng định. một chiến lược sư phạm chú trọng tới việc tích cực hóa hoạt động học tập của người học và xuất phát từ quyền lợi và mong muốn của người học sau khi kết thúc chương trình học tập môn Ngữ văn. Thứ ba: Mở rộng phạm vi kiến thức kỹ năng được kiểm tra qua mỗi lần đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh. Trong đánh giá, coi trọng sự đánh giá toàn diện về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ dựa trên kết quả thực hành vận dụng 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh - không có nghĩa là đề cao kỹ năng, coi nhẹ đánh giá thái độ và trình độ nhận thức có tính khoa học.

Ngay cả việc đánh giá năng lực cảm thụ của học sinh cũng không thể chỉ căn cứ vào các bài kiểm tra viết (làm văn) theo định kỳ mà không dựa trên kết quả kiểm tra thường xuyên của cả 4 kỹ năng này. Kết hợp với sự thể hiện, bộc lộ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong học tập các môn học khác và trong những hoạt động khác ở lớp học, trong nhà trường, ngoài xã hội. Với nguyên tắc này, các bài kiểm tra chỉ yêu cầu học sinh nhớ, tái hiện kiến thức (mức độ tư duy nhận biết) được giảm thiểu, những câu hỏi bài tập thử thách tư duy sáng tạo (mức độ tư duy thông hiểu), năng lực vận dụng linh hoạt các tri thức kĩ năng đã học để giải quyết hợp lí những vấn đề đặt ra trong thực tiễn (mức độ tư duy vận dụng) được tăng cường. Mặt khác, mỗi bài kiểm tra có thể sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau nhằm phân hoá các đối tượng học sinh, giúp giáo viên có được những thông tin đầy đủ về việc học tập Ngữ văn của từng đối tượng học sinh trong lớp và từ đó có những quyết định sư phạm chính xác, kịp thời giúp từng học sinh tiến bộ thực sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ