Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề thủ công nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Thắng, thuộc chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế Quốc tế (mã số: 62.01) tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Vũ Văn Hiền và GS. TS. Hoàng Văn Châu. Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước vào ngày 12 tháng 06 năm 2010.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo lập luận của tác giả trong phần mở đầu, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với khoảng 75% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn. Nông nghiệp giữ vị trí thiết yếu đối với sự ổn định kinh tế - xã hội. Bên cạnh hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi, nhiều ngành nghề truyền thống đã được phục hồi và mở rộng như mây tre đan, gốm sứ, dệt chiếu, thảm cói, thảm xơ dừa, sơn mài, thêu ren, chế biến gỗ, bún, miến. Quá trình tích tụ và liên kết kinh tế tại nông thôn đã từng bước hình thành các làng nghề và các doanh nghiệp làng nghề chuyên sâu về một hoặc vài sản phẩm đặc trưng. Các thực thể này giữ vai trò giải quyết việc làm trong thời gian nông nhàn, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Về phương diện thương mại, làng nghề và doanh nghiệp làng nghề là nơi sản xuất, cung ứng chủ yếu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, đóng góp khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành hàng. Bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, hoạt động của các hộ sản xuất và doanh nghiệp làng nghề còn mang nặng tính tự phát, kinh nghiệm, quy mô nhỏ và thiếu các nghiên cứu khoa học có tính hệ thống. Khoảng trống nghiên cứu mà đề tài chỉ ra là: trước đây chưa có công trình nào giải quyết đồng bộ và toàn diện cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn mối quan hệ giữa việc phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung:

  1. Hệ thống hoá và góp phần bổ sung cơ sở lý luận về phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ;
  2. Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề và doanh nghiệp làng nghề ở Việt Nam;
  3. Đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời gian qua để tìm ra những kết quả, hạn chế, nguyên nhân làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy sản xuất trong các làng nghề, doanh nghiệp làng nghề, tăng nhanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam;
  4. Đề xuất chính sách, giải pháp phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để tăng nhanh hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 11 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm về làng nghề và doanh nghiệp làng nghề;
  2. Phân tích quá trình hình thành và phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề Việt Nam;
  3. Nêu vai trò của làng nghề và doanh nghiệp làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
  4. Rút ra bài học kinh nghiệm từ việc phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề của một số nước và khu vực trên thế giới;
  5. Điều tra thực trạng phát triển làng nghề và doanh nghiệp làng nghề;
  6. Điều tra thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các doanh nghiệp làng nghề;
  7. Đánh giá kết quả xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các doanh nghiệp làng nghề;
  8. Làm rõ quan điểm phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam;
  9. Nêu phương hướng, mục tiêu phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ;
  10. Đưa ra những giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ;
  11. Đề xuất một số kiến nghị phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu tại các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề trên phạm vi cả nước; tiếp cận trực tiếp các chủ thể là hộ sản xuất và doanh nghiệp thông qua khảo sát thực tế và phiếu điều tra.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008; đề xuất giải pháp và định hướng phát triển đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
  • Phạm vi lĩnh vực: Hoạt động sản xuất tại làng nghề và hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của làng nghề.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Nghiên cứu quốc tế: Tác giả nhận định làng nghề và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu phân bố ở các quốc gia châu Á và một số ít nước châu Phi. Các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc có các nghiên cứu phục vụ việc ban hành chính sách phát triển của riêng họ, song các tài liệu này chủ yếu giới hạn trong phạm vi hẹp và ít được công bố rộng rãi ra quốc tế.

Nghiên cứu trong nước:

  • Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương): "Đề án phát triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đến năm 2010" (hoàn thành tháng 5/2007), tập trung phân tích 4 nhóm vấn đề: (1) sản xuất trong nước, (2) môi trường kinh doanh, (3) phát triển thị trường xuất khẩu, (4) phát triển bền vững;
  • Bộ Thương mại: "Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA): "Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành thủ công mỹ nghệ theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam" (tháng 2/2004), thực hiện quy hoạch dựa trên dữ liệu khảo sát thực tế sản xuất, kinh doanh;
  • GS. TS. Hoàng Văn Châu: Đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo "Xây dựng và phát triển mô hình làng nghề du lịch của một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ", mã số B2005-40-5;
  • TS. Nguyễn Hữu Khải, ThS. Đào Ngọc Tiến, ThS. Vũ Thị Hiền: Sách chuyên khảo "Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam", Nhà xuất bản Thống kê, 2007;
  • TS. Nguyễn Hữu Khải, ThS. Đào Ngọc Tiến: Sách chuyên khảo "Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống", Nhà xuất bản Lao động Xã hội, 2006;
  • Vũ Từ Trang: Sách khảo cứu "Nghề cổ đất Việt", Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, 2007;
  • Phạm Côn Sơn: Sách tham khảo "Làng nghề truyền thống Việt Nam", Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, 2007;
  • Nguyễn Văn Đáng: "Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội và các vùng phụ cận đến năm 2010 và những năm tiếp theo";
  • Các bài tham luận tại hai hội thảo năm 2008 của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam ("Cơ hội đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong bối cảnh mới" và "Tiềm năng và thực trạng làng nghề Việt Nam hiện nay"): các báo cáo của ông Vũ Quốc Tuấn (Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam), ông Lưu Duy Dần (Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam), thạc sĩ Bùi Văn Vượng, ông Lê Đức Thịnh và bà Lê Thị Phi Vân (nghiên cứu doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vĩnh Phúc và Phú Thọ).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trên mới chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ như quy hoạch ngành hàng, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, xây dựng thương hiệu hoặc du lịch làng nghề. Chưa có công trình nào giải quyết một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về việc phát triển đồng thời cả làng nghề và mô hình doanh nghiệp làng nghề gắn trực tiếp với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trên các khái niệm định danh then chốt:

  • Khái niệm Làng: Tiếp cận theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học): "Làng là một khối dân cư nông thôn làm thành một đơn vị, có đời sống riêng về nhiều mặt".
  • Khái niệm Làng nghề: Căn cứ Thông tư số 116/2006/TT-BNN&PTNT ngày 18/2/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hướng dẫn Nghị định 66/2006/NĐ-CP), tiêu chí công nhận làng nghề đòi hỏi tối thiểu 30% tổng số hộ gia đình trong cụm dân cư tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và hoạt động ổn định ít nhất 2 năm. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (hoặc làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất, kinh doanh độc lập, trong đó thu nhập từ nghề chiếm tỷ lệ cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng.
  • Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Tác giả định nghĩa là những làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mang tính thẩm mỹ, tinh xảo, có tính nghệ thuật cao, có các nghệ nhân hoặc thợ lành nghề, trong đó sản phẩm có giá trị nhân văn nhiều hơn giá trị sử dụng đơn thuần.
  • Doanh nghiệp làng nghề: Tác giả xác định khái niệm: "Doanh nghiệp làng nghề là những doanh nghiệp ra đời và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, nhằm chủ yếu sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ hoặc dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ".
  • Phân biệt doanh nghiệp làng nghề và doanh nghiệp tại làng nghề: Luận án nêu rõ sự khác biệt giữa hai nhóm: doanh nghiệp làng nghề trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh hàng thủ công hoặc làm dịch vụ đầu vào/đầu ra cho thủ công mỹ nghệ (như cung ứng nguyên liệu gốm sứ, kinh doanh mây tre đan); trong khi các doanh nghiệp tại làng nghề chỉ đơn thuần đóng trụ sở trên địa bàn nhưng hoạt động ở lĩnh vực khác (như vận tải hành khách, xay xát lúa gạo) thì không thuộc phạm trù nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thống kê mô tả:

  • Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng;
  • Phương pháp thống kê mô tả, phân tích số liệu, tổng hợp và so sánh đối chiếu;
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả tiến hành khảo sát thực địa và phát mẫu phiếu thăm dò điều tra trực tiếp tới các cơ sở sản xuất, hộ gia đình và doanh nghiệp làng nghề.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Thương mại (Bộ Công Thương), Tổng cục Thống kê, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Hà Tây cũ; các tài liệu lịch sử như Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Phủ biên tạp lục, báo cáo khảo sát của P. Gourou (1930) và Tập san kinh tế Đông Dương (1939).
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phiếu điều tra và khảo sát thực tế của tác giả tại 25 làng nghề thuộc tỉnh Hải Dương, các cơ sở gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông - Hà Nội), làng đúc nhôm chì Yên Phong, làng rèn Đa Hội (Bắc Ninh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về làng nghề, doanh nghiệp làng nghề và tiềm năng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các doanh nghiệp làng nghề

Chương 1 tập trung phân tích tiến trình lịch sử, đặc điểm, quy mô, cơ cấu và thực trạng của hệ thống làng nghề và doanh nghiệp làng nghề tại Việt Nam.

1. Lịch sử hình thành và phát triển

  • Thời kỳ phong kiến: Khởi đầu từ thời kỳ đồ đá cũ (3-4 vạn năm trước) đến thời đại đồ đồng Đông Sơn với kỹ thuật đúc trống đồng. Thời Đông Sơn đã định hình 7 nhóm nghề thủ công: luyện kim, gốm, thủy tinh, mộc và sơn, dệt vải, đan lát, chế tác. Thời Bắc thuộc có các sản phẩm giấy trầm hương, đồ thủy tinh màu. Thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV), hàng loạt làng nghề định hình như lụa La Khê, Vạn Phúc, gốm Bát Tràng, đúc đồng Đại Bái, Đê Cầu, Đông Mai, rèn sắt Văn Chàng, nón Ma Lôi. Thời Hậu Lê - Mạc (thế kỷ XV - XVII), Thăng Long phát triển 36 phố phường (Yên Thái, Nghi Tàm, Thụy Chương, Hàng Đào, Hàng Bạc, Ngũ Xá, Hàng Khay, Hàng Trống); hình thành trung tâm gốm Chu Đậu (Hải Dương) phát triển suốt hai thế kỷ XVI - XVII. Thời cận đại triều Nguyễn (trước 1858), Công bộ quản lý các thợ thủ công giỏi trưng tập về Huế; các phố nghề chuyên môn hóa cao, xuất hiện tầng lớp tiểu chủ, chủ bao mua.
  • Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945): Thành lập các trường mỹ nghệ thực hành tại Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn (từ 1898); sản phẩm tham gia hội chợ Lyon (1893), Paris (1907); thành lập Bảo tàng Công - Nông - Thương (1902); mở hội chợ Đấu Xảo (1918). Năm 1935, Pháp thực hiện cuộc "chấn hưng công nghệ". Theo số liệu khảo sát của P. Gourou năm 1930, Bắc Bộ có khoảng 250.000 thợ thủ công (chiếm 6,5% lao động, nếu tính người làm không chuyên là 8%). Tỉnh Hà Đông có 14% lao động (khoảng 65.000 người) làm nghề thủ công, tập trung tại huyện Thanh Oai (29% lao động làm nghề, riêng Bối Khê chiếm 44%, Thủy Cam 41%) và huyện Ứng Hòa (19% lao động, Đông Lỗ chiếm 43%). Theo Tập san kinh tế Đông Dương năm 1939, thợ thủ công Bắc Kỳ là 95.700 người, Trung Kỳ là 12.650 người và Nam Kỳ là 19.300 người.
  • Thời kỳ từ năm 1954 đến nay: Giai đoạn 1960 - 1990 hình thành mô hình hợp tác xã làng nghề, xuất khẩu quy mô lớn sang các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc) theo phương thức hàng đổi hàng, chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Đầu thập niên 1990, thị trường Đông Âu sụp đổ dẫn đến giai đoạn đình đốn. Từ sau năm 1995, cùng với công cuộc đổi mới và Luật Doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới ra đời, đánh dấu sự hình thành và mở rộng của các doanh nghiệp làng nghề.

2. Thực trạng làng nghề và doanh nghiệp làng nghề

Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam được luận án dẫn chiếu (Vũ Quốc Tuấn, 2009), cả nước có 2.017 làng nghề. Miền Bắc chiếm 63% tổng số làng nghề cả nước, Trung Bộ chiếm 21%, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 16%.

Bảng 1: Quy mô làng nghề theo vùng kinh tế (Nguồn: Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn Việt Nam năm 2004, dẫn theo Luận án)

Khu vực Số làng nghề (làng) Số người làm nghề (người) Số người làm nghề trung bình mỗi làng (người)
Đồng bằng sông Hồng 914 848.868 929
Bắc Trung Bộ 341 137.954 405
Nam Trung Bộ 87 44.593 513
Đông Nam Bộ 101 93.992 931
Đồng bằng sông Cửu Long 211 84.286 399

Bảng 2: Tỷ lệ lao động tham gia một số sản phẩm thủ công (Nguồn: Nghiên cứu Quy hoạch ngành nghề thủ công, 2004, dẫn theo Luận án)

Sản phẩm Tổng số lao động (người) Tỷ lệ tham gia sản xuất hàng thủ công (%)
Cói 233.479 15,3
Giấy 2.307 23,0
Tranh bản gỗ 1.065 26,5

Về cơ cấu làng nghề theo ngành hàng (khảo sát MARD & JICA 2004 trên 11 nhóm hàng): nhóm mây tre chiếm 24%, dệt vải chiếm 14%, chế biến gỗ chiếm 12%, thêu ren chiếm 11%, cói chiếm 10%, gốm sứ chiếm 2%.

Về hình thức sở hữu trong doanh nghiệp làng nghề theo số liệu điều tra của tác giả:

  • Doanh nghiệp tư nhân: chiếm 42%;
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn: chiếm 31%;
  • Công ty cổ phần: chiếm 19%;
  • Các hình thức khác (tổ hợp, hợp tác xã, xí nghiệp): chiếm 8%.

Tại Bát Tràng (Hà Nội), đến năm 2008 có 65 doanh nghiệp: 6 công ty cổ phần, 12 doanh nghiệp tư nhân, 34 công ty TNHH; trong đó 64% là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, 17% cung ứng nguyên vật liệu, 19% làm marketing và dịch vụ, thu hút khoảng 3.000 lao động. Tại Bắc Ninh, năm 2007 có 120 làng nghề (62 làng nghề truyền thống) với 18.405 hộ gia đình, 245 công ty TNHH và 170 doanh nghiệp tư nhân.

3. Sáu nhóm hạn chế chính của làng nghề

  1. Cơ sở hạ tầng yếu kém: Mặt bằng sản xuất chật hẹp do kết hợp nơi ở với nơi sản xuất. Thiếu quy hoạch mặt bằng chuyên biệt, hạ tầng giao thông và nguồn điện không ổn định.
  2. Quy mô nhỏ, thiếu vốn đầu tư: Kinh tế hộ chỉ có 3 - 4 lao động. Khảo sát 25 làng nghề tại Hải Dương cho thấy chỉ 1% số hộ bỏ hẳn ruộng đất nông nghiệp (làng sứ Cậy có 70% hộ làm nghề nhưng dưới 3% hộ bỏ nông nghiệp). Vốn chủ yếu là vốn tự có; tại Bắc Ninh (2008), chỉ 11 - 12% số hộ và 42% cơ sở/doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay ngân hàng, tỷ lệ vay qua các chương trình quốc tế chỉ đạt 1,4 - 4,5%. Tại Thái Bình (2007), tổng vốn đầu tư làng nghề khoảng 1.000 tỷ đồng chủ yếu do tư nhân tự bỏ ra.
  3. Thiết bị lạc hậu, mẫu mã nghèo nàn: Sử dụng công cụ tự chế, ít cập nhật xu hướng thị hiếu thẩm mỹ quốc tế.
  4. Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: Tại làng lụa Vạn Phúc, 700 cơ sở sản xuất có 22 cơ sở tẩy nhuộm; mỗi ngày sản xuất 4.000 mét lụa (tương đương 400 kg lụa), thải ra lượng nước thải lớn (cứ 1 kg lụa mất 30 lít nước tẩy rửa; 10 kg lụa dùng 300g hoá chất nhuộm); xét nghiệm nước ngầm cho thấy nồng độ cao của Na2CO3, CH3COOH, H2S, Na2S. Tại làng đúc rèn Đa Hội (Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh), nồng độ CO, CO2, SO2 cao gấp hàng trăm lần quy chuẩn, 1/3 lao động mắc bệnh đường hô hấp và mắt. Làng đúc nhôm chì Yên Phong bị ô nhiễm chì nặng nề.
  5. Khó khăn về thị trường tiêu thụ và uy tín thương mại: Sản xuất tự phát, vi phạm cam kết hợp đồng về quy cách, mẫu mã, chất lượng (dẫn chứng từ khảo sát đại lý thương mại tại TP. Hồ Chí Minh và Công ty Greenfield Tour tại Đồng bằng sông Cửu Long).
  6. Suy giảm chất lượng đội ngũ thợ và nghệ nhân: Tình trạng "tre già, măng không mọc", thiếu thế hệ nghệ nhân kế cận, gia tăng tỷ lệ lao động gia công chưa qua đào tạo bài bản.

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam

Nội dung chương 2 tập trung phân tích hoạt động xuất khẩu của ngành hàng giai đoạn 2000 - 2008 thông qua các chỉ tiêu cụ thể:

  • Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Đánh giá biến động kim ngạch của 5 nhóm mặt hàng chính: (1) gốm sứ; (2) hàng mây, tre, cói, thảm; (3) hàng sơn mài mỹ nghệ; (4) hàng thêu ren; (5) đồ gỗ mỹ nghệ và gỗ gia dụng.
  • Cơ cấu và chuyển dịch thị trường: Phân tích sự chuyển dịch từ các thị trường truyền thống trước đây (Liên Xô, Đông Âu) sang các thị trường mới như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản. Khảo sát dữ liệu về vị trí nhà cung cấp hàng trang trí nội thất và quà tặng sang thị trường EU.
  • Đánh giá kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp làng nghề: Khẳng định doanh nghiệp làng nghề đóng góp khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của cả nước. Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng cũng như nguyên nhân hạn chế: chi phí trung gian cao, giá trị gia tăng chưa tương xứng do phần lớn xuất khẩu thông qua trung gian ủy thác, mẫu mã ngoại nhập gia công là chính, thiếu thương hiệu độc lập và tính gắn kết trong chuỗi giá trị còn yếu.

Chương 3: Giải pháp phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong quá trình hội nhập

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp thực hiện đến năm 2015, tầm nhìn 2020:

  • Bối cảnh và dự báo: Phân tích tác động của các cam kết hội nhập (WTO, AFTA, APEC, ASEM); dự báo cung cầu và xu hướng tiêu dùng hàng thủ công mỹ nghệ trên thị trường quốc tế giai đoạn 2010 - 2020.
  • Định hướng và chỉ tiêu xuất khẩu: Xác định mục tiêu kim ngạch xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ đến năm 2015 và năm 2020 theo từng nhóm sản phẩm trọng điểm và khu vực thị trường mục tiêu.
  • Hệ thống giải pháp phát triển làng nghề và doanh nghiệp làng nghề:
    • Quy hoạch không gian sản xuất, tách cơ sở sản xuất khỏi khu dân cư, xây dựng cụm công nghiệp làng nghề;
    • Xây dựng chiến lược sản phẩm, đổi mới mô hình quản lý và tổ chức chuỗi liên kết giá trị khép kín từ thu mua nguyên liệu, thiết kế mẫu mã đến phân phối xuất khẩu;
    • Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và Hiệp hội Xuất khẩu Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam (Vietcraft).
  • Hệ thống giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu:
    • Hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng, ưu đãi thuế và đất đai;
    • Đầu tư phát triển hạ tầng và vùng nguyên liệu tập trung;
    • Kết hợp công nghệ xử lý kỹ thuật hiện đại với kỹ năng thủ công truyền thống;
    • Đào tạo nguồn nhân lực, tôn vinh và bảo tồn nghề của các nghệ nhân;
    • Gắn kết bảo tồn làng nghề với các tour du lịch văn hóa nhằm xuất khẩu tại chỗ.
  • Kiến nghị thực thi: Phân định trách nhiệm cụ thể đối với các bộ, ngành Trung ương (Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), chính quyền các địa phương và các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

Theo công bố của tác giả, luận án mang lại 7 điểm đóng góp mới:

  1. Đánh giá toàn diện và có hệ thống thực trạng làng nghề và doanh nghiệp làng nghề; góp phần hoàn chỉnh khái niệm khoa học về doanh nghiệp làng nghề và làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa việc phát triển làng nghề với sự hình thành, mở rộng của doanh nghiệp làng nghề.
  2. Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của hệ thống làng nghề và doanh nghiệp làng nghề.
  3. Xây dựng bộ dữ liệu thực tế về làng nghề và doanh nghiệp làng nghề (quy mô, lao động, tỷ lệ vốn, ô nhiễm môi trường), phản ánh các kiến nghị và đòi hỏi thực tế từ cơ sở lên các cơ quan quản lý vĩ mô.
  4. Nhận diện các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO.
  5. Tổng hợp và phân tích các bài học kinh nghiệm về quản lý và phát triển làng nghề của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản).
  6. Đưa ra các dự báo khoa học và định hướng phát triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
  7. Đề xuất hệ thống giải pháp, cơ chế chính sách và kiến nghị cụ thể, có tính khả thi đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương và các hiệp hội ngành nghề.

Hệ thống giải pháp và kiến nghị

Luận án kiến nghị Nhà nước cần sớm ban hành chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi không cần thế chấp toàn phần đối với các dự án mở rộng sản xuất thủ công mỹ nghệ; quy hoạch các cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước và khí thải; đồng thời hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, bảo hộ chỉ dẫn địa lý và tài trợ xúc tiến thương mại quốc tế.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn dữ liệu thống kê quốc gia về số lượng và quy mô làng nghề thời điểm thực hiện đề tài còn thiếu tính thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương; các khảo sát thực tế chuyên sâu tập trung chủ yếu tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình). Tài liệu nghiên cứu quốc tế từ các nước đang phát triển trong khu vực còn hạn chế do chưa được số hóa và công bố rộng rãi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm tại các làng nghề khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long; đánh giá định lượng tác động dài hạn của các rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường xanh từ thị trường nhập khẩu (EU, Hoa Kỳ) đối với chuỗi cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ sau năm 2010.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp giá trị tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các tỉnh): Tham khảo cơ sở dữ liệu về cơ cấu sở hữu doanh nghiệp làng nghề, thực trạng ô nhiễm môi trường tại các cụm sản xuất (Vạn Phúc, Đa Hội) và các bất cập về vốn để xây dựng chính sách quy hoạch đất đai, tín dụng nông thôn và tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
  • Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và Hiệp hội ngành hàng: Sử dụng các khuyến nghị về liên kết chuỗi giá trị và mô hình quản trị doanh nghiệp để xây dựng chương trình xúc tiến thương mại, kết nối thị trường tiêu thụ và hỗ trợ hội viên bảo vệ uy tín thương hiệu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Thương mại quốc tế, Kinh tế quốc tế và Kinh tế phát triển: Kế thừa hệ thống tài liệu lịch sử thủ công nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ, phương pháp tiếp cận phân biệt giữa "doanh nghiệp làng nghề" và "doanh nghiệp tại làng nghề", cùng các dữ liệu điều tra thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm "doanh nghiệp làng nghề" và "doanh nghiệp tại các làng nghề" như thế nào?
Tác giả xác định doanh nghiệp làng nghề là các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ hoặc cung ứng dịch vụ phục vụ ngành nghề này (như cung ứng nguyên liệu gốm, mây tre). Ngược lại, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn làng nghề nhưng kinh doanh lĩnh vực khác, không liên quan đến chuỗi giá trị thủ công mỹ nghệ (như vận tải hành khách, xay xát lương thực) thì không được coi là doanh nghiệp làng nghề.

2. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại làng dệt lụa Vạn Phúc được tác giả dẫn chứng bằng các dữ liệu cụ thể nào?
Theo kết quả khảo sát của tác giả, làng Vạn Phúc có 700 cơ sở sản xuất lụa với 22 cơ sở tẩy nhuộm. Mỗi ngày làng nghề sản xuất 4.000 mét lụa (tương đương 400 kg lụa). Cứ mỗi 1 kg lụa thành phẩm cần 30 lít nước tẩy rửa và 10 kg lụa tiêu tốn 300g hoá chất nhuộm màu. Toàn bộ nước thải không qua xử lý được xả trực tiếp ra môi trường. Mẫu xét nghiệm nước ngầm của Khoa Hoá (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) cho thấy nồng độ cao của các chất hoá học như Na2CO3, CH3COOH, H2S và Na2S.

3. Cơ cấu loại hình sở hữu của các doanh nghiệp làng nghề được ghi nhận theo kết quả điều tra của tác giả ra sao?
Kết quả điều tra của tác giả cho thấy mô hình doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ lệ cao nhất với 42%, tiếp theo là công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 31%, công ty cổ phần chiếm 19%, và 8% còn lại thuộc về các mô hình khác như hợp tác xã, tổ hợp sản xuất, xí nghiệp.

4. Dữ liệu lịch sử thời Pháp thuộc về thợ thủ công Bắc Bộ được luận án trích dẫn từ nguồn nào?
Luận án trích dẫn số liệu điều tra năm 1930 của học giả P. Gourou cho thấy toàn xứ Bắc Bộ có khoảng 250.000 thợ thủ công (chiếm 6,5% dân số trong độ tuổi lao động, hoặc 8% nếu tính cả lao động bán chuyên nghiệp). Ngoài ra, số liệu từ Tập san kinh tế Đông Dương năm 1939 ghi nhận Bắc Kỳ có 95.700 thợ thủ công, đông gấp 7 lần Trung Kỳ (12.650 người) và gấp gần 5 lần Nam Kỳ (19.300 người).

5. Doanh nghiệp làng nghề đóng góp bao nhiêu phần trăm trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam?
Căn cứ số liệu trình bày tại phần Mở đầu và Chương 2 của luận án, các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề thủ công mỹ nghệ đóng góp xấp xỉ 90% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của cả nước.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Thắng là công trình nghiên cứu kinh tế phản ánh bức tranh toàn cảnh về tiến trình lịch sử, thực trạng vận hành và tiềm năng xuất khẩu của hệ thống làng nghề và doanh nghiệp làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp tổng thuật tài liệu lịch sử với điều tra thực địa tại nhiều địa phương trọng điểm, tác giả đã làm rõ vai trò chủ chốt của doanh nghiệp làng nghề trong việc tạo việc làm cho nông thôn và đóng góp 90% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Công trình đã chỉ ra 6 nút thắt nghiêm trọng về hạ tầng, vốn, công nghệ, môi trường, thị trường và nguồn nhân lực, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đến năm 2020.