CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ, DOANH NGHIỆP LÀNG NGHỀ VÀ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LÀNG NGHỀ. Khái niệm, đặc điểm về làng nghề và doanh nghiệp làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề và làng nghề thủ công mỹ nghệ Trong lịch sử hình thành và phát triển, đến nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp. Do vậy, làng, xã có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống của cư dân.
Làng, xã Việt Nam phát triển từ lâu đời, gắn bó với nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Làng là một khối dân cư nông thôn làm thành một đơn vị, có đời sống riêng về nhiều mặt ” [110] Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nghề nông nghiệp, dần dần do nhu cầu cuộc sống, có một bộ phận dân cư chuyển sang làm nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau thành lập một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường, hội. Từ đó, các nghề được mở rộng và phát triển ở nhiều nơi. Cùng với thời gian, các nghề mới ngày càng nhiều hơn và trở thành nghề quan trọng đem lại thu nhập chính cho một bộ phận dân cư và bộ phận dân cư này tách hẳn đồng ruộng, chuyển sang làm nghề mới.
Vậy, theo tác giả, làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (một làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất, kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ lệ cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng. Theo Thông tư số 116/2006/TT - BNN&PTNT ngày 18/2/2000 về việc: Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, định nghĩa: “Làng nghề là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Cũng theo Thông tư trên, “được coi là làng nghề, nếu các hộ gia đình lao động trong làng làm nghề tối thiểu chiếm từ 30% trở lên; hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm công nhận.
Như vậy, làng xã là nơi sinh ra nghề thủ công và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh của địa phương và dân tộc. Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Sự phát triển được bắt nguồn từ một vài gia đình, rồi đến dòng họ và sau lan ra quy mô cả làng. Trải qua thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được lưu giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn, có những nghề mới ra đời.
Trong đó có những nghề đạt tới trình độ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công xã hội khá cao, cùng lưu giữ với thời gian, gọi là nghề truyền thống. Nghề thủ công với những sản phẩm của nó thật sự đã góp phần tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc và là những di sản văn hoá dân tộc. Bản sắc văn hoá bất kỳ dân tộc nào cũng đều là nền tảng cho sự tồn tại của dân tộc đó. Truyền thống văn hoá được biểu hiện tập trung ở bản sắc văn hoá dân tộc.
Nói đến làng nghề chính là nói đến làng nghề thủ công. Vì hầu hết sản xuất trong các làng nghề đều làm bằng thủ công (bằng tay). Thời gian gần đây, khoa học công nghệ phát triển, một số ít công đoạn được sử dụng bằng máy. Có một số rất ít làng nghề buôn bán, thì đó không phải là làng nghề thủ công.
Việt Nam có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, sản xuất ra những sản phẩm sử dụng trong cuộc sống hàng ngày hoặc để vui chơi, giải trí, chiêm ngưỡng hoặc để xuất khẩu. Mỗi làng nghề đều có những nghề đặc trưng khác nhau. Chẳng hạn làng nghề gốm, sứ, làng nghề mây tre đan, làng nghề làm bún, giò chả, làng nghề làm giấy, làng nghề đúc đồng, làng nghề làm bánh, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 mứt kẹo, làng nghề buôn bán,. Nhưng không phải tất cả các loại làng nghề trên đều là làng nghề thủ công mỹ nghệ.
Theo quan điểm của tác giả, làng nghề thủ công mỹ nghệ là những làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mang tính thẩm mỹ, tinh xảo có tính nghệ thuật cao. Trong các làng nghề thủ công mỹ nghệ thường có các nghệ nhân, thợ thủ công lành nghề nổi tiếng chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, sản xuất ra những sản phẩm mang tính đặc trưng của làng. Các sản phẩm đó thường có giá trị nhân văn nhiều hơn giá trị sử dụng. Khái niệm về doanh nghiệp làng nghề và doanh nghiệp làng nghề thủ công mỹ nghệ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều thành phần và loại hình kinh tế xuất hiện trong xã hội và đóng góp phần không nhỏ cho sự phát triển đất nước.
Trong những năm đổi mới, nhất là từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời, hàng loạt doanh nghiệp trong đó quy mô nhỏ và vừa chiếm đa số, đã được đăng ký và hoạt động. Không ít doanh nghiệp làng nghề cũng ra đời trong giai đoạn này. Hiện nay, chưa có một định nghĩa hoặc khái niệm thống nhất nào về doanh nghiệp làng nghề. Vì vậy, tác giả đưa ra khái niệm cơ bản về doanh nghiệp làng nghề như sau: “Doanh nghiệp làng nghề là những doanh nghiệp ra đời và hoạt động theo LuËt Doanh nghiÖp, nhằm chñ yÕu sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ hoặc dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ”.
Trong những năm gần đây, nhiều hộ kinh tế gia đình trong các làng nghề đã thay đổi hình thức sở hữu, mô hình sản xuất, kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp làng nghề ngày càng tăng nhanh và chứng tỏ có nhiều ưu thế hơn so với kinh tế hộ gia đình. Loại hình doanh nghiệp chiếm đa số trong các làng nghề là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Ở đây ta cần phân biệt khái niệm doanh nghiệp làng nghề với doanh nghiệp tại các làng nghề.
Theo tác giả, khái niệm doanh nghiệp làng nghề là chỉ những doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh hàng thủ công của các làng nghề hoặc những doanh nghiệp dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng thủ công. Chẳng hạn như doanh nghiệp sản xuất hàng gốm, sứ; doanh nghiệp kinh doanh hàng mây tre đan; doanh nghiệp chuyên cung ứng nguyên liệu cho sản xuất gốm sứ,. Còn những doanh nghiệp tại các làng nghề mà không sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, không liên quan đến các dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ thì không phải là doanh nghiệp làng nghề. Chẳng hạn như doanh nghiệp vận tải hành khách, doanh nghiệp thu mua, chế biến thóc, gạo tại các làng nghề,.
Sở dĩ chúng ta phải xác định cụ thể khái niệm này vì nó liên quan đến việc xây dựng mô hình quản lý, đánh giá thực trạng doanh nghiệp làng nghề và xây dựng cơ chế, chính sách cùng các giải pháp phát triển doanh nghiệp làng nghề. Lịch sử phát triển làng nghề và doanh nghiệp làng nghề Việt Nam 1. Quá trình ra đời và phát triển làng nghề a/ Thời kỳ phong kiến Làng nghề thủ công Việt Nam từng tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử và góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc. Truyền thống văn hoá đó là niềm tự hào của dân tộc qua các thế hệ nối tiếp nhau.
Đó là những thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật với các sản phẩm, công cụ, kinh nghiệm sản xuất còn lưu truyền đến ngày nay. Đây chính là nền tảng và động lực cũng như mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài của nghề và làng nghề thủ công. Qua các tài liệu nghiên cứu dấu vết người cổ đã tìm thấy hàng vạn công cụ đồ đá ghè, đẽo thô sơ. Những dấu vết đó khẳng định một giai đoạn đồ đá cũ khoảng ba, bốn vạn năm về trước.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Thời kỳ Đông Sơn (thời đại đồ đồng), người Việt Đông Sơn đã đúc được trống đồng đạt tới đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật. Những trang trí trên mặt trống đồng đã phản ánh một cách phong phú và sinh động cuộc sống, lao động và chiến đấu, những hình thức tín ngưỡng, hoạt động vui chơi, giải trí của người Việt cổ. Theo nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rằng, ở thời kỳ này nền nông nghiệp phát triển mạnh, nên nghề thủ công có điều kiện mở rộng. Ngược lại, nghề thủ công, nhất là nghề luyện kim đã tác động vào nông nghiệp bằng các loại công cụ sản xuất có hiệu quả hơn các công cụ bằng đá, gỗ, tre thô sơ, làm cho các nghề trồng trọt, nhất là trồng lúa phát triển mạnh.
Đương nhiên, nghề thủ công phát triển không chỉ nhờ nông nghiệp, mà còn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố khác. Trong đó, đáng chú ý là do chiến tranh chống xâm nhập của phương Bắc. Vũ khí bằng đồng, sắt là những thứ không thể thiếu của thời kỳ này. Người Việt Đông Sơn đã ổn định sản xuất ít nhất 7 nhóm nghề thủ công lớn như nghề luyện kim, nghề gốm, nghề thuỷ tinh, nghề mộc và sơn, nghề dệt vải, nghề đan lát (mây, tre, nứa, cói), nghề chế tác.
Thời kỳ Bắc thuộc, các nghề chủ yếu sản xuất công cụ và vật dụng bằng sắt, đồng, giấy, thuỷ tinh, mộc,. Đạt đến trình độ tinh xảo. Sử sách còn ghi: “Lái buôn Trung Quốc sang Giao Chỉ (Việt Nam) mua giấy trầm hương, vua Tần cuối thế kỷ thứ III sai quan lại dùng giấy này để chép sách Xuân Thu, Kinh truyện. Vào thế kỷ thứ IV, trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật từ Ấn Độ, người Việt Nam đã thổi những bình, bát thuỷ tinh nhiều màu sắc.
Dưới thời nhà Ngô đô hộ, hàng ngàn thợ thủ công Việt Nam bị bắt sang Trung Quốc để xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh)”. [3] Tuy vậy, phải đến thế kỷ thứ XI - XIV, dưới triều nhà Lý (1010 - 1225) và nhà Trần (1225 - 1400) đất nước mới thực sự phục hưng. Nhà nước Đại Việt lúc này khá hùng mạnh.