CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN ̣ cơ bản 1. Mô ̣t số khái niêm 1. Năng lư ̣c Theo quan điểm của những nhà tâm lý học thì: “ năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao nhất.62] Theo chương trin ̀ h giáo du ̣c phổ thông tổ ng thể : “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.14 ] Tóm lại, dựa trên nhiề u ý kiế n ở trên ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.
Năng lực được chia thành 2 loại là năng lực chung và năng lực chuyên biệt. 9 download by : skknchat@gmail.com Năng lực chung là những năng lực cốt lõi của các hoạt động trong cuộc sống, học tập và lao động và đươ ̣c hình thành, phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người và quá trình giáo dục. Bao gồm các nhóm NL chung như sau: - NL công cu ̣: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL ICT - NL chung số ng/ NL xã hô ̣i: NL giao tiế p, NL hơ ̣p tác - NL làm chủ và phát triể n bản thân: NL thẩ m mi,̃ NL tự chủ NL chuyên biệt đươ ̣c hiể u là những NL được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở các NL chung theo hướng chuyên sâu hơn, đă ̣c thù trong các loại hình công việc hoặc tình huống, môi trường cu ̣ thể. Trong quá trình dạy học Lịch sử, việc phát triển năng lực chuyên biệt rất được chú trọng.
Năng lực chuyên biệt được chia thành ba loại năng lực: - NL THLS: “ học sinh có khả năng nhận diện được các tư liệu lịch sử, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử nhằ m phục vụ quá trình học tập của mình. Đồng thời tái hiện nội dung lịch sử thông qua hình thức nói hoặc viết từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện trong không gian và thời gian cụ thể” [23;tr.7] - NL nhận thức và tư duy lịch sử: “ Hs có khả năng chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử; tìm hiểu được sự giố ng và khác nhau giữa các sự kiện; lí giải được mối quan hệ các sự kiê ̣n trong tiến trình của lịch sử. Đưa ra được những đánh giá của bản thân về các sự kiện, nhân vật trên cơ sở nhận thức và tư duy; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử, biết suy nghĩ theo những hướng khác nhau khi đánh giá về sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử” [23;tr.7] - NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: “ rút ra được bài học và sử dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những tình huố ng thực tiễn; tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và 10 download by : skknchat@gmail.com xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời.7] Nhâ ̣n thấ y NLTHLS là mô ̣t năng lực quan tro ̣ng và cầ n thiế t cho ho ̣c sinh khi ho ̣c môn lich ̣ sử. Bởi lich ̣ sử là quá khứ, ta chỉ có thể tiế p câ ̣n quá khứ qua tài liê ̣u, sử liê ̣u,… nhằ m tái hiêṇ sự kiêṇ trong quá khứ.
Trong da ̣y ho ̣c Lich ̣ sử GV không thể giới thiêụ hế t tấ t cả các kiế n thức LS cho HS mà chỉ có thể giúp HS nắ m những kiế n thức cơ bản. Hơn nữa muố n so sánh, sử du ̣ng kiế n thức thì đầ u tiên ta phải nắ m chắ c bản chấ t của sự kiê ̣n ấ y, vì vâ ̣y NLTHLS đóng vai trò là nề n tảng cho sự hình thành các NL chuyên biê ̣t khác. Do đó, tôi tâ ̣p trung nghiên cứu phát triể n NL tìm hiể u lich ̣ sử cho HS. Câu hỏi Thường ngày ta thường sử dụng và phải giải quyết các câu hỏi.
Nhưng không mấy ai hiểu rõ được khái niệm chung nhất về câu hỏi, có rất nhiều ý kiến và khái niệm khác nhau. Khi nhắc đến câu hỏi, ta phải xác định trên 2 khía cạnh Về nội dung: câu hỏi là câu nói lên sự thắc mắc, hoài nghi về một vấn đề nào đó và cần được làm rõ. Về hình thức: có dấu chấm hỏi “?” hoặc có từ để hỏi: “ tại sao”?, “ như thế nào”?, “ở đâu”?,… Tuy nhiên trong một số trường hợp, câu hỏi chứa nội dung nghi vấn tuy nhiên không có dấu chấm hỏi hay có từ để hỏi nhưng chúng ta vẫn nhận biết qua ngữ điệu. Trong dạy học lịch sử, câu hỏi thường nêu lên mâu thuẫn giữa kiến thức đã học với kiến thức mới, giữa kiến thức và cách giải quyết kiến thức.
Có nhiều căn cứ để phân chia câu hỏi: theo các khâu, theo các giai đoạn của bài học, theo nội dung, theo mục đích của câu hỏi, theo định hướng câu trả lời,theo không gian sử dụng… 11 download by : skknchat@gmail.com - Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh thì câu hỏi được chia thành: + Câu hỏi tái hiện: học sinh tái hiện những kiến thức đã được học. + Câu hỏi phát hiện (câu hỏi tìm kiếm): học sinh đọc SGK, tư liệu là có thể trả lời được, tạo hứng thú học tập, cung cấp kiến thức mới. + Câu hỏi phát triển: Đòi hỏi học sinh phải độc lập suy nghĩ và có tính sang tạo, không chỉ ghi nhớ mà còn nắm vững bản chất sự kiện,… Nếu dựa vào thời điểm sử dụng, câu hỏi được chia thành các loại sau: + Câu hỏi nêu vấn đề: được dung vào đầu giờ, đầu mục để đặt ra nhiệm vụ nhận thức cho học sinh. + Câu hỏi gợi mở: Dùng trong quá trình biễn tiến bài học, nhằm tìm hiểu nội dung của bài học.
+ Câu hỏi củng cố, kiểm tra: Sử dụng ở cuối bài học Tuy nhiên, đa số mọi người thường chia câu hỏi theo mức độ nhâ ̣n thức của câu hỏi bao gồm: + Câu hỏi nhận biết: Yêu cầu học sinh nhớ hoặc nhận ra những kiến thức cơ bản đã biế t, đã đươ ̣c ho ̣c. Có nghĩa là học sinh phải nhắc lại một loạt ̣ từ các sự kiện đơn giản đến các khái niệm lí thuyết, tái hiện trong các sự kiên, trí nhớ những thông tin cần thiết. Đây là mức độ thấp nhất đạt được trong lĩnh vực nhận thức.Ví dụ như trình bày diễn biến, mốc thời gian, liêṭ kê các sự kiêṇ chin ́ h,… + Câu hỏi thông hiểu: Yêu cầu học sinh giải thích được bản chất sự kiện, mối liên hệ giữa các sự kiện, diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình và trả lời được các câu hỏi tương tự. Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các số liệu sang ngôn từ.), bằng cách giải thích được tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt), mô tả theo ngôn từ của mình.
Câu hỏi này ở mức độ này cao hơn so với mức độ nhận biết. Ví du ̣ như giải thić h nguyên nhân, phân tích mố i quan hê ̣ của sự kiêṇ này với sự kiêṇ kia,…. 12 download by : skknchat@gmail.com + Câu hỏi vận dụng: Yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề nào đó của lịch sử như đánh giá sự kiện đã học với thực ta ̣i. Ở mức đô ̣ này học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần mà có ̣ sử của chủ đề trong các tình huống tương thể sử dụng, xử lý các kiế n thức lich tự.
Ví du ̣ như: Đánh giá sự ảnh hưởng giữa 2 sự kiê ̣n, liên hê ̣ sự kiêṇ này với sự kiê ̣n kia,. Đă ̣c trưng kiế n thức lich ̣ sử Thứ nhất là tính quá khứ: “ Lịch sử là một dòng chảy liên tục trên trục thời gian từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Nhận thức lịch sử trong khoa học lịch sử là nhận thức phần quá khứ trên trục thời gian ấy, bởi vậy người ta không thể tận mắt chứng kiến mà chỉ tiếp cận được chúng thông qua các tài liệu lịch sử.” [1;tr104] Yêu cầu của GV là giúp HS tiếp cận lịch sử một cách khách quan, trung thực. Để đảm bảo đươ ̣c điề u này, mỗi câu hỏi của GV đă ̣t ra phải giúp HS khai thác tài liê ̣u lich ̣ sử nhằ m hình thành và phát triể n kiế n thức của bản thân.
Thứ hai là tính không lặp lại: “ Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [1; tr105] Do đó khi đă ̣t câu hỏi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử phải chú ý đế n thời gian và không gian làm xảy ra sự kiện, hiện tượng đó. Thứ ba là tính cụ thể: “ Các nước, các dân tộc khác nhau đều mang những nét đặc sắc riêng trong tiến trình lịch sử và quy luật của nó. Mỗi sự kiện cụ thể đều có hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa cụ thể.” [1; tr110] Vì vâ ̣y GV cầ n đă ̣t những câu hỏi giúp HS hướng tới viê ̣c trình bày các sự kiện lịch sử mô ̣t cách chi tiế t, sinh động càng trở nên cầ n thiế t. Thứ tư là tính hệ thống (logic): “Nội dung tri thức trong môn Lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao 13 download by : skknchat@gmail.