Luận văn: Sử dụng câu hỏi dạy Lịch Sử Việt Nam lớp 10, phát triển NLTHLS

Luận văn về sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử lớp 10, thế kỷ X - XIX. Phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh THPT hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2019

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

0.4. Mu ̣c đích và nhiêm ̣ vu ̣ của đề tài

0.5. Cơ sở pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của khóa luâ ̣n

0.7. Ý nghiã khoa ho ̣c và thư ̣c tiễn của đề tài

0.8. Cấu trúc của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT

1.1. Mô ̣t số khái niêm ̣ cơ bản

1.2. Đă ̣c trưng kiế n thức lich ̣ sử

1.3. Đă ̣c điể m tâm lí và nhâ ̣n thức của ho ̣c sinh lớp 10 ở trường THPT

1.4. Đinh ̣ hướng đổ i mới PPDH trong da ̣y ho ̣c Lich ̣ sử ở trường THPT

1.5. Vai trò, ý nghiã của viêc̣ sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Lich ̣ sử nhằ m phát triể n năng lư ̣c tim ̣ hiể u lich sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT

1.6. Cơ sở thực tiễn

1.6.1. Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT

1.6.2. Thư ̣c tra ̣ng sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c lich ̣ sử nhằ m phát triể n năng lư ̣c tim ̣ hiể u lich sử ở trường THPT

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LICH ̣ SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌ M HIỂU LICH ̣ SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT

2.1. Vi tri ́, mu ̣c tiêu, nô ̣i dung phầ n lich ̣ sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (SGK Lich ̣ sử 10, chương trin ̀ h chuẩ n)

2.2. Nguyên tắ c sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Lich ̣ sử ở trường THPT

2.2.1. Đảm bảo nô ̣i dung bài ho ̣c lich ̣ sử

2.2.2. Đảm bảo tính vừa sức

2.2.3. Đảm bảo tính đa da ̣ng trong viêc̣ thiế t kế câu hỏi

2.2.4. Đảm bảo tính hê ̣ thố ng

2.3. Quy trin ̀ h sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Lich ̣ sử để phát triển năng lực tìm hiểu Lich sử cho HS ở trường THPT

2.4. Mô ̣t số biêṇ pháp sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c phầ n Lich ̣ sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằ m phát triể n năng lực tim ̣ hiể u lich sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT

2.5. Sử du ̣ng câu hỏi nhằ m phát triể n năng lư ̣c nhâ ̣n diêṇ và sử du ̣ng tư liêụ lich ̣ sử

2.6. Sử du ̣ng câu hỏi nhằ m phát triể n năng lưc̣ tái hiêṇ và trin ̀ h bày lich ̣ sử

2.7. Thư ̣c nghiêm ̣ sư pha ̣m

2.7.1. Mu ̣c đích thư ̣c hiêṇ

2.7.2. Đố i tươ ̣ng và điạ bàn thư ̣c nghiêm ̣

2.7.3. Nô ̣i dung và phương pháp thư ̣c nghiêm

2.7.4. Kế t quả thư ̣c nghiêm ̣

2.7.5. Kế t luâ ̣n sau thư ̣c nghiêm ̣

2.8. Tiể u kế t chương 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng dẫn phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử HS THPT toàn diện

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc dạy học không chỉ dừng lại ở truyền thụ kiến thức. Mục tiêu cốt lõi là hình thành và phát triển năng lực cho học sinh. Đối với môn Lịch sử, năng lực tìm hiểu lịch sử được xem là năng lực chuyên biệt nền tảng, có vai trò quyết định đến việc lĩnh hội kiến thức và hình thành các năng lực khác. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Lịch sử, năng lực này bao gồm khả năng nhận diện, khai thác, sử dụng tư liệu lịch sử, tái hiện sự kiện và xác định bối cảnh không gian, thời gian. Đây là chìa khóa giúp học sinh từ vị thế người tiếp nhận thụ động trở thành người chủ động kiến tạo tri thức. Phát triển năng lực này đòi hỏi một sự đổi mới phương pháp dạy học lịch sử một cách căn bản, chuyển từ việc tập trung vào "cái gì" (kiến thức) sang "làm thế nào" (kỹ năng). Học sinh cần được trang bị công cụ để tự mình khám phá quá khứ, thông qua việc làm việc trực tiếp với các nguồn sử liệu. Quá trình này không chỉ giúp các em ghi nhớ sự kiện mà còn hiểu được bản chất, ý nghĩa và tác động của chúng. Một giáo viên hiệu quả là người có khả năng thiết kế các hoạt động trải nghiệm môn lịch sử, tạo ra môi trường để học sinh thực hành các kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử. Việc này giúp môn Lịch sử trở nên sống động, gần gũi và thực tiễn hơn. Khi học sinh có thể tự mình phân tích một văn bản cổ, giải mã một bức ảnh lịch sử, hay diễn giải một biểu đồ, các em đang thực sự "làm" sử học, chứ không chỉ "học" về nó. Do đó, việc đầu tư vào các phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tìm hiểu lịch sử là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng mục tiêu của dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

1.1. Hiểu đúng về năng lực tìm hiểu lịch sử trong dạy học Lịch sử

Năng lực tìm hiểu lịch sử không đơn thuần là khả năng ghi nhớ ngày tháng, sự kiện. Theo tài liệu nghiên cứu của Trần Thị Thúy Hằng, đây là khả năng “nhận diện được các tư liệu lịch sử, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử nhằm phục vụ quá trình học tập”. Năng lực này được cấu thành từ các kỹ năng cụ thể: sưu tầm, nhận diện nguồn sử liệu (gốc và thứ cấp), phân tích và đánh giá độ tin cậy của tư liệu, giải mã thông tin, và cuối cùng là tái hiện, trình bày lại kiến thức lịch sử một cách logic, có chứng cứ. Quá trình này giúp học sinh phát triển năng lực tự học môn lịch sử, biến các em thành những nhà nghiên cứu nhỏ, tự tìm tòi và chiếm lĩnh tri thức. Đây là nền tảng để hình thành các năng lực cao hơn như nhận thức, tư duy lịch sử và vận dụng kiến thức.

1.2. Tầm quan trọng của kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử hiện nay

Trong thời đại bùng nổ thông tin, kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Học sinh không chỉ đối mặt với sách giáo khoa mà còn với vô số nguồn thông tin trên Internet. Việc trang bị kỹ năng này giúp các em phân biệt thông tin chính xác và sai lệch, hình thành tư duy phản biện trong lịch sử. Khả năng đánh giá một nguồn tin, xác định quan điểm của tác giả, và đối chiếu với các nguồn khác là công cụ thiết yếu để xây dựng một nhận thức lịch sử khách quan, trung thực. Hơn nữa, kỹ năng này có tính ứng dụng cao, vượt ra ngoài phạm vi môn học, giúp học sinh trở thành những công dân có năng lực, biết cách xử lý thông tin một cách hiệu quả trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

II. Vượt qua thách thức trong dạy Lịch sử Nâng cao năng lực tự học

Thực trạng dạy và học Lịch sử tại các trường THPT hiện nay đối mặt với nhiều thách thức. Một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn còn thái độ thờ ơ, xem đây là môn phụ, học thuộc lòng để đối phó thi cử. Khảo sát thực tiễn tại các trường THPT cho thấy, một trong những nguyên nhân chính là do phương pháp dạy học lịch sử truyền thống. Lối dạy "đọc-chép", thuyết trình một chiều khiến giờ học trở nên khô khan, nặng nề, thiếu tính tương tác. Học sinh ít có cơ hội được chủ động tìm tòi, khám phá, dẫn đến việc không hứng thú và không thấy được ý nghĩa thực tiễn của môn học. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, “GV còn chưa thực sự hiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưa chủ động đổi mới dẫn đến giờ học nặng nề, khó khăn”. Thêm vào đó, việc sử dụng câu hỏi trong lớp học thường mang tính hình thức, chủ yếu là câu hỏi tái hiện kiến thức, chưa kích thích được tư duy bậc cao. Điều này vô hình trung triệt tiêu khả năng sáng tạo và năng lực tự học môn lịch sử của học sinh. Để vượt qua những rào cản này, cần có một cuộc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử toàn diện, mà trọng tâm là thay đổi vai trò của cả giáo viên và học sinh. Giáo viên cần chuyển từ người truyền thụ sang người tổ chức, hướng dẫn, còn học sinh phải trở thành trung tâm của quá trình dạy học.

2.1. Thực trạng phương pháp dạy học lịch sử truyền thống còn tồn tại

Phương pháp thuyết trình, giảng giải vẫn chiếm ưu thế trong nhiều giờ học Lịch sử. Giáo viên là người nói chính, còn học sinh chủ yếu lắng nghe và ghi chép. Cách tiếp cận này có thể truyền tải một lượng lớn thông tin trong thời gian ngắn, nhưng lại hạn chế nghiêm trọng sự phát triển năng lực của người học. Nó không tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện các kỹ năng như phân tích, so sánh, đánh giá hay đặt câu hỏi. Kết quả là kiến thức trở nên rời rạc, máy móc và nhanh chóng bị lãng quên sau mỗi kỳ thi. Thực trạng này đòi hỏi phải có sự thay đổi, áp dụng các phương pháp tích cực hơn như dạy học theo chủ đề môn lịch sử hay học tập theo dự án để phá vỡ lối mòn cũ.

2.2. Rào cản tâm lý và nhận thức của học sinh THPT với môn Sử

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT có nhu cầu khẳng định bản thân và tư duy độc lập cao. Tuy nhiên, định kiến "môn Sử khó, khô, khổ" đã tạo ra một rào cản tâm lý lớn. Các em thường cảm thấy môn học quá nặng về ghi nhớ sự kiện, số liệu mà thiếu tính ứng dụng. Theo nghiên cứu, học sinh THPT có khả năng phát triển tư duy trừu tượng và logic rất tốt. Nếu phương pháp dạy học lịch sử không khai thác được tiềm năng này, không đặt ra những vấn đề thách thức tư duy, học sinh sẽ dễ dàng cảm thấy nhàm chán. Việc thay đổi nhận thức này bắt đầu từ việc làm cho môn học trở nên hấp dẫn hơn, thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử và các hoạt động học tập mang tính tương tác cao.

III. Phương pháp sử dụng câu hỏi để phát triển năng lực tìm hiểu Sử

Sử dụng câu hỏi là một trong những biện pháp sư phạm hiệu quả và linh hoạt nhất để phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử. Một hệ thống câu hỏi được thiết kế tốt có thể dẫn dắt học sinh đi từ việc nhận biết thông tin đơn thuần đến phân tích sâu sắc và đánh giá vấn đề. Theo nghiên cứu của Trần Thị Thúy Hằng, việc xây dựng câu hỏi cần tuân thủ các nguyên tắc: đảm bảo nội dung bài học, tính vừa sức, tính đa dạng và tính hệ thống. Câu hỏi không chỉ để kiểm tra kiến thức cũ mà phải là công cụ để kiến tạo kiến thức mới. Thay vì hỏi "Trình bày diễn biến trận Bạch Đằng?", giáo viên có thể đặt vấn đề: "Dựa vào lược đồ và tư liệu, hãy phân tích tại sao Ngô Quyền lại chọn cửa sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến?". Câu hỏi này buộc học sinh phải huy động kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử, tư duy logic để giải quyết vấn đề. Quá trình này thúc đẩy mạnh mẽ tư duy phản biện trong lịch sử. Giáo viên cần xây dựng một quy trình sử dụng câu hỏi khoa học: xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, xây dựng hệ thống câu hỏi theo các cấp độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng), tổ chức cho học sinh làm việc và cuối cùng là tổng kết, đánh giá. Đây là một phương pháp dạy học lịch sử tích cực, đặt học sinh vào vai trò chủ thể khám phá, góp phần hiện thực hóa mục tiêu của dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

3.1. Quy trình thiết kế hệ thống câu hỏi theo định hướng năng lực

Để xây dựng hệ thống câu hỏi hiệu quả, giáo viên cần thực hiện theo một quy trình chặt chẽ. Bước đầu tiên là xác định mục tiêu năng lực cần đạt của bài học. Bước hai, phân tích nội dung kiến thức và xác định các đơn vị kiến thức trọng tâm có thể khai thác. Bước ba, thiết kế các câu hỏi theo ma trận nhận thức, từ mức độ tái hiện đơn giản đến các câu hỏi đòi hỏi phân tích, so sánh, đánh giá và sáng tạo. Các câu hỏi cần gắn liền với các nguồn tư liệu đa dạng (văn bản, hình ảnh, video, hiện vật). Bước cuối cùng là dự kiến các phương án trả lời và cách thức tổ chức hoạt động trên lớp (thảo luận nhóm, tranh biện, cá nhân) để tối ưu hóa hiệu quả. Một giáo án lịch sử phát triển năng lực tốt luôn có một hệ thống câu hỏi được đầu tư kỹ lưỡng.

3.2. Vận dụng các cấp độ câu hỏi Từ nhận biết đến tư duy phản biện

Việc kết hợp đa dạng các cấp độ câu hỏi là yếu tố then chốt. Câu hỏi nhận biết (Ai? Cái gì? Khi nào?) giúp học sinh củng cố kiến thức nền tảng. Câu hỏi thông hiểu (Tại sao? Hãy giải thích?) đòi hỏi học sinh phải diễn giải, làm rõ bản chất sự kiện. Câu hỏi vận dụng (Hãy so sánh? Bài học kinh nghiệm là gì?) yêu cầu học sinh liên kết các kiến thức, rút ra quy luật và ý nghĩa. Đặc biệt, câu hỏi vận dụng cao, gắn với các tình huống giả định hoặc các vấn đề tranh cãi trong lịch sử, sẽ là chất xúc tác mạnh mẽ nhất để hình thành tư duy phản biện trong lịch sử. Chẳng hạn: "Nếu là Vua Quang Trung, bạn sẽ có những chính sách gì để phục hưng đất nước sau chiến tranh?".

IV. Top 3 phương pháp dạy học Lịch sử tích cực và hiệu quả nhất

Bên cạnh việc sử dụng câu hỏi, nhiều phương pháp dạy học tích cực khác cũng góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh. Các phương pháp này đều có điểm chung là tăng cường hoạt động của học sinh, giảm thiểu sự thuyết giảng của giáo viên và thúc đẩy học tập hợp tác. Thứ nhất, dạy học dự án môn lịch sử là một phương pháp hiệu quả. Học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành để tạo ra sản phẩm cụ thể (bài thuyết trình, video, triển lãm). Quá trình này đòi hỏi các em phải tự lên kế hoạch, thu thập và xử lý thông tin, rèn luyện toàn diện các kỹ năng. Thứ hai, dạy học tích hợp môn lịch sử giúp học sinh nhìn nhận các sự kiện trong mối liên hệ đa chiều. Tích hợp với Văn học, Địa lí, Giáo dục công dân... giúp kiến thức lịch sử trở nên sâu sắc và có ý nghĩa hơn. Ví dụ, phân tích bài thơ "Nam quốc sơn hà" trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Tống. Thứ ba, tổ chức các hoạt động trải nghiệm môn lịch sử như tham quan bảo tàng, di tích, hay sân khấu hóa sự kiện lịch sử giúp biến kiến thức trừu tượng thành những trải nghiệm cụ thể, sinh động. Việc sử dụng di sản trong dạy học lịch sử là một cách tiếp cận độc đáo, tạo hứng thú và bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh.

4.1. Triển khai dạy học dự án môn lịch sử Từ ý tưởng đến sản phẩm

Dạy học dự án bắt đầu bằng một câu hỏi định hướng hoặc một vấn đề thực tiễn. Ví dụ: "Làm thế nào để giới thiệu về văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần cho du khách nước ngoài?". Học sinh sẽ làm việc theo nhóm, tự phân công nhiệm vụ: nhóm tìm hiểu kiến trúc, nhóm nghiên cứu tôn giáo, nhóm sưu tầm trang phục... Các em phải chủ động tìm kiếm, chọn lọc và xử lý thông tin từ nhiều nguồn. Sản phẩm cuối cùng có thể là một tour du lịch ảo, một cẩm nang, hay một vở kịch ngắn. Quá trình này không chỉ củng cố kiến thức mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình và giải quyết vấn đề.

4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử thời 4.0

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử mở ra những khả năng vô tận. Giáo viên có thể sử dụng các phần mềm tạo dòng thời gian tương tác, bản đồ số, phim tài liệu, hay các bảo tàng ảo 3D để làm phong phú bài giảng. Học sinh có thể sử dụng công nghệ để thực hiện các dự án học tập, tạo ra các sản phẩm số như infographic, podcast, video clip. Công nghệ thông tin giúp việc tiếp cận nguồn tư liệu trở nên dễ dàng hơn, đồng thời phát triển năng lực số - một trong những năng lực cốt lõi của công dân thế kỷ 21.

4.3. Tổ chức hoạt động trải nghiệm Sử dụng di sản trong dạy học

Đưa học sinh ra khỏi không gian lớp học truyền thống là cách hiệu quả để kết nối lịch sử với cuộc sống. Việc tổ chức cho học sinh tham quan Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay các di tích địa phương giúp các em có cái nhìn trực quan và cảm nhận sâu sắc hơn về quá khứ. Trong các chuyến đi này, giáo viên có thể thiết kế các phiếu học tập, yêu cầu học sinh quan sát, ghi chép, phỏng vấn. Hoạt động sử dụng di sản trong dạy học lịch sử không chỉ cung cấp kiến thức mà còn giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

V. Bí quyết xây dựng giáo án Lịch sử phát triển năng lực hiệu quả

Để các phương pháp trên được hiện thực hóa, việc xây dựng một giáo án lịch sử phát triển năng lực là bước chuẩn bị then chốt. Một giáo án hiệu quả không còn tập trung vào việc giáo viên sẽ "dạy" gì, mà là học sinh sẽ "làm" gì để hình thành kiến thức và kỹ năng. Cấu trúc của một giáo án theo định hướng năng lực thường bao gồm 5 hoạt động chính theo Công văn 5512: Khởi động (tạo tình huống có vấn đề), Hình thành kiến thức mới (tổ chức cho học sinh tìm tòi, khám phá), Luyện tập (vận dụng kiến thức để giải quyết bài tập cụ thể), Vận dụng (liên hệ kiến thức với thực tiễn), và Mở rộng (khuyến khích tự học, tìm tòi thêm). Trọng tâm của giáo án là chuỗi các hoạt động học tập được thiết kế rõ ràng, với mục tiêu, nội dung, sản phẩm dự kiến và cách thức tổ chức cụ thể. Việc kiểm tra đánh giá năng lực học sinh cũng cần được đổi mới, chuyển từ đánh giá cuối kỳ sang đánh giá thường xuyên trong suốt quá trình học tập, thông qua quan sát, nhận xét sản phẩm học tập, bài trình bày... Kết quả thực nghiệm sư phạm trong nhiều nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các giáo án được xây dựng theo hướng này giúp nâng cao rõ rệt thái độ học tập và kết quả của học sinh.

5.1. Cấu trúc một giáo án lịch sử phát triển năng lực tìm hiểu điển hình

Một giáo án điển hình sẽ bắt đầu bằng mục tiêu rõ ràng về phẩm chất và năng lực cần hình thành. Phần hoạt động được thiết kế chi tiết. Ví dụ, trong hoạt động hình thành kiến thức về "Phong trào Tây Sơn", giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm nhận một bộ tư liệu (trích đoạn "Hoàng Lê nhất thống chí", lược đồ hành quân, tranh ảnh...) và một hệ thống câu hỏi định hướng. Nhiệm vụ của học sinh là thảo luận, xử lý tư liệu để hoàn thành phiếu học tập. Sản phẩm của các nhóm sẽ được trình bày và cả lớp cùng thảo luận, góp ý. Giáo viên đóng vai trò là người điều phối, chốt lại các kiến thức quan trọng.

5.2. Các hình thức kiểm tra đánh giá năng lực học sinh hiệu quả

Việc kiểm tra đánh giá năng lực học sinh cần đa dạng hóa hình thức để phản ánh chính xác năng lực của các em. Thay vì chỉ dựa vào bài kiểm tra viết truyền thống, giáo viên có thể sử dụng các hình thức khác như: đánh giá qua sản phẩm dự án (bài powerpoint, video, mô hình), đánh giá qua bài thuyết trình, tranh biện, đánh giá thông qua hồ sơ học tập (portfolio), hay sử dụng các phiếu quan sát, bảng kiểm (checklist), rubric để đánh giá quá trình làm việc nhóm và các kỹ năng khác. Cách tiếp cận này giúp việc đánh giá trở nên toàn diện, công bằng và có ý nghĩa hơn, không chỉ để cho điểm mà còn để giúp học sinh tiến bộ.

VI. Tương lai của đổi mới PPDH Lịch sử Hướng tới người học

Việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực không phải là một xu hướng nhất thời, mà là một yêu cầu tất yếu của giáo dục hiện đại. Tương lai của việc dạy và học Lịch sử nằm ở việc trao quyền chủ động cho người học, biến mỗi giờ học thành một hành trình khám phá đầy hứng khởi. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là trang bị cho học sinh kiến thức về quá khứ, mà quan trọng hơn là hình thành ở các em năng lực học tập suốt đời, tư duy độc lập và tinh thần công dân có trách nhiệm. Phát triển thành công năng lực tìm hiểu lịch sử sẽ là nền tảng vững chắc để học sinh tiếp tục khám phá tri thức, lý giải những vấn đề phức tạp của thế giới hiện đại và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Việc này đòi hỏi sự nỗ lực đồng bộ từ các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia và đặc biệt là đội ngũ giáo viên – những người trực tiếp thắp lên ngọn lửa đam mê sử học trong mỗi học sinh. Chuyển đổi từ dạy học tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực là một quá trình lâu dài, nhưng những lợi ích mà nó mang lại cho thế hệ tương lai là vô cùng to lớn và bền vững.

6.1. Lợi ích dài hạn của việc phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử

Khi được trang bị năng lực tìm hiểu lịch sử, học sinh không chỉ giỏi hơn ở môn Sử. Các em sẽ hình thành được những kỹ năng tư duy bậc cao có thể chuyển giao sang nhiều lĩnh vực khác: kỹ năng giải quyết vấn đề, phân tích thông tin, lập luận dựa trên bằng chứng, và giao tiếp hiệu quả. Đây là những phẩm chất cần thiết để thành công trong bất kỳ ngành nghề nào trong tương lai. Hơn thế nữa, việc hiểu sâu sắc về lịch sử dân tộc giúp bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm công dân, tạo ra một thế hệ trẻ vừa có năng lực chuyên môn, vừa có nền tảng văn hóa vững chắc.

6.2. Xu hướng dạy học Lịch sử trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa

Trong bối cảnh mới, việc dạy học Lịch sử cần vượt ra khỏi biên giới quốc gia, giúp học sinh đặt lịch sử Việt Nam trong dòng chảy chung của lịch sử khu vực và thế giới. Đồng thời, xu hướng số hóa mạnh mẽ đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử phải trở thành một kỹ năng cơ bản của giáo viên. Các mô hình học tập kết hợp (blended learning), lớp học đảo ngược (flipped classroom) sẽ ngày càng phổ biến. Thách thức và cũng là cơ hội cho giáo dục Lịch sử là làm thế nào để tận dụng công nghệ một cách sáng tạo, giúp học sinh kết nối với quá khứ một cách ý nghĩa và phù hợp với tâm thế của công dân toàn cầu, công dân số.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN ̣ cơ bản 1. Mô ̣t số khái niêm 1. Năng lư ̣c Theo quan điểm của những nhà tâm lý học thì: “ năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao nhất.62] Theo chương trin ̀ h giáo du ̣c phổ thông tổ ng thể : “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.14 ] Tóm lại, dựa trên nhiề u ý kiế n ở trên ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.

Năng lực được chia thành 2 loại là năng lực chung và năng lực chuyên biệt. 9 download by : skknchat@gmail.com Năng lực chung là những năng lực cốt lõi của các hoạt động trong cuộc sống, học tập và lao động và đươ ̣c hình thành, phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người và quá trình giáo dục. Bao gồm các nhóm NL chung như sau: - NL công cu ̣: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL ICT - NL chung số ng/ NL xã hô ̣i: NL giao tiế p, NL hơ ̣p tác - NL làm chủ và phát triể n bản thân: NL thẩ m mi,̃ NL tự chủ NL chuyên biệt đươ ̣c hiể u là những NL được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở các NL chung theo hướng chuyên sâu hơn, đă ̣c thù trong các loại hình công việc hoặc tình huống, môi trường cu ̣ thể. Trong quá trình dạy học Lịch sử, việc phát triển năng lực chuyên biệt rất được chú trọng.

Năng lực chuyên biệt được chia thành ba loại năng lực: - NL THLS: “ học sinh có khả năng nhận diện được các tư liệu lịch sử, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử nhằ m phục vụ quá trình học tập của mình. Đồng thời tái hiện nội dung lịch sử thông qua hình thức nói hoặc viết từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện trong không gian và thời gian cụ thể” [23;tr.7] - NL nhận thức và tư duy lịch sử: “ Hs có khả năng chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử; tìm hiểu được sự giố ng và khác nhau giữa các sự kiện; lí giải được mối quan hệ các sự kiê ̣n trong tiến trình của lịch sử. Đưa ra được những đánh giá của bản thân về các sự kiện, nhân vật trên cơ sở nhận thức và tư duy; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử, biết suy nghĩ theo những hướng khác nhau khi đánh giá về sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử” [23;tr.7] - NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: “ rút ra được bài học và sử dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những tình huố ng thực tiễn; tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và 10 download by : skknchat@gmail.com xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời.7] Nhâ ̣n thấ y NLTHLS là mô ̣t năng lực quan tro ̣ng và cầ n thiế t cho ho ̣c sinh khi ho ̣c môn lich ̣ sử. Bởi lich ̣ sử là quá khứ, ta chỉ có thể tiế p câ ̣n quá khứ qua tài liê ̣u, sử liê ̣u,… nhằ m tái hiêṇ sự kiêṇ trong quá khứ.

Trong da ̣y ho ̣c Lich ̣ sử GV không thể giới thiêụ hế t tấ t cả các kiế n thức LS cho HS mà chỉ có thể giúp HS nắ m những kiế n thức cơ bản. Hơn nữa muố n so sánh, sử du ̣ng kiế n thức thì đầ u tiên ta phải nắ m chắ c bản chấ t của sự kiê ̣n ấ y, vì vâ ̣y NLTHLS đóng vai trò là nề n tảng cho sự hình thành các NL chuyên biê ̣t khác. Do đó, tôi tâ ̣p trung nghiên cứu phát triể n NL tìm hiể u lich ̣ sử cho HS. Câu hỏi Thường ngày ta thường sử dụng và phải giải quyết các câu hỏi.

Nhưng không mấy ai hiểu rõ được khái niệm chung nhất về câu hỏi, có rất nhiều ý kiến và khái niệm khác nhau. Khi nhắc đến câu hỏi, ta phải xác định trên 2 khía cạnh Về nội dung: câu hỏi là câu nói lên sự thắc mắc, hoài nghi về một vấn đề nào đó và cần được làm rõ. Về hình thức: có dấu chấm hỏi “?” hoặc có từ để hỏi: “ tại sao”?, “ như thế nào”?, “ở đâu”?,… Tuy nhiên trong một số trường hợp, câu hỏi chứa nội dung nghi vấn tuy nhiên không có dấu chấm hỏi hay có từ để hỏi nhưng chúng ta vẫn nhận biết qua ngữ điệu. Trong dạy học lịch sử, câu hỏi thường nêu lên mâu thuẫn giữa kiến thức đã học với kiến thức mới, giữa kiến thức và cách giải quyết kiến thức.

Có nhiều căn cứ để phân chia câu hỏi: theo các khâu, theo các giai đoạn của bài học, theo nội dung, theo mục đích của câu hỏi, theo định hướng câu trả lời,theo không gian sử dụng… 11 download by : skknchat@gmail.com - Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh thì câu hỏi được chia thành: + Câu hỏi tái hiện: học sinh tái hiện những kiến thức đã được học. + Câu hỏi phát hiện (câu hỏi tìm kiếm): học sinh đọc SGK, tư liệu là có thể trả lời được, tạo hứng thú học tập, cung cấp kiến thức mới. + Câu hỏi phát triển: Đòi hỏi học sinh phải độc lập suy nghĩ và có tính sang tạo, không chỉ ghi nhớ mà còn nắm vững bản chất sự kiện,… Nếu dựa vào thời điểm sử dụng, câu hỏi được chia thành các loại sau: + Câu hỏi nêu vấn đề: được dung vào đầu giờ, đầu mục để đặt ra nhiệm vụ nhận thức cho học sinh. + Câu hỏi gợi mở: Dùng trong quá trình biễn tiến bài học, nhằm tìm hiểu nội dung của bài học.

+ Câu hỏi củng cố, kiểm tra: Sử dụng ở cuối bài học Tuy nhiên, đa số mọi người thường chia câu hỏi theo mức độ nhâ ̣n thức của câu hỏi bao gồm: + Câu hỏi nhận biết: Yêu cầu học sinh nhớ hoặc nhận ra những kiến thức cơ bản đã biế t, đã đươ ̣c ho ̣c. Có nghĩa là học sinh phải nhắc lại một loạt ̣ từ các sự kiện đơn giản đến các khái niệm lí thuyết, tái hiện trong các sự kiên, trí nhớ những thông tin cần thiết. Đây là mức độ thấp nhất đạt được trong lĩnh vực nhận thức.Ví dụ như trình bày diễn biến, mốc thời gian, liêṭ kê các sự kiêṇ chin ́ h,… + Câu hỏi thông hiểu: Yêu cầu học sinh giải thích được bản chất sự kiện, mối liên hệ giữa các sự kiện, diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình và trả lời được các câu hỏi tương tự. Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các số liệu sang ngôn từ.), bằng cách giải thích được tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt), mô tả theo ngôn từ của mình.

Câu hỏi này ở mức độ này cao hơn so với mức độ nhận biết. Ví du ̣ như giải thić h nguyên nhân, phân tích mố i quan hê ̣ của sự kiêṇ này với sự kiêṇ kia,…. 12 download by : skknchat@gmail.com + Câu hỏi vận dụng: Yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề nào đó của lịch sử như đánh giá sự kiện đã học với thực ta ̣i. Ở mức đô ̣ này học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần mà có ̣ sử của chủ đề trong các tình huống tương thể sử dụng, xử lý các kiế n thức lich tự.

Ví du ̣ như: Đánh giá sự ảnh hưởng giữa 2 sự kiê ̣n, liên hê ̣ sự kiêṇ này với sự kiê ̣n kia,. Đă ̣c trưng kiế n thức lich ̣ sử Thứ nhất là tính quá khứ: “ Lịch sử là một dòng chảy liên tục trên trục thời gian từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Nhận thức lịch sử trong khoa học lịch sử là nhận thức phần quá khứ trên trục thời gian ấy, bởi vậy người ta không thể tận mắt chứng kiến mà chỉ tiếp cận được chúng thông qua các tài liệu lịch sử.” [1;tr104] Yêu cầu của GV là giúp HS tiếp cận lịch sử một cách khách quan, trung thực. Để đảm bảo đươ ̣c điề u này, mỗi câu hỏi của GV đă ̣t ra phải giúp HS khai thác tài liê ̣u lich ̣ sử nhằ m hình thành và phát triể n kiế n thức của bản thân.

Thứ hai là tính không lặp lại: “ Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [1; tr105] Do đó khi đă ̣t câu hỏi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử phải chú ý đế n thời gian và không gian làm xảy ra sự kiện, hiện tượng đó. Thứ ba là tính cụ thể: “ Các nước, các dân tộc khác nhau đều mang những nét đặc sắc riêng trong tiến trình lịch sử và quy luật của nó. Mỗi sự kiện cụ thể đều có hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa cụ thể.” [1; tr110] Vì vâ ̣y GV cầ n đă ̣t những câu hỏi giúp HS hướng tới viê ̣c trình bày các sự kiện lịch sử mô ̣t cách chi tiế t, sinh động càng trở nên cầ n thiế t. Thứ tư là tính hệ thống (logic): “Nội dung tri thức trong môn Lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao 13 download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ