Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc dạy học nội dung Xác suất - Thống kê ở trường THPT theo LTKN Chương 3: Phương pháp thiết kế và tổ chức dạy học Xác suất - Thống kê ở trường Trung học phổ thông theo lý thuyết kết nối với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Chương 4: Thực nghiệm sư phạm 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nh ng công trình iên qu n đến đề tài uận án 1. Công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết kết nối 1. Ở nước ngoài Từ nh ng năm 80 của thế kỷ XX, Vygotsky (1978) đã quan tâm đến sự kết nối kiến thức gi a vùng kiến thức đã có với tri thức mới cần đạt được của học sinh, trong lý thuyết về “Vùng phát triển gần” (Zone of Proximal Development) (Hình 1.
Sơ đồ về vùng phát triển gần của Vygotsky Năm 1999, Engeström, Yrjö; Miettinen, Reijo; Punamäki, Raija-Leena đã xuất bản cuốn sách trình bày toàn diện về lý thuyết hoạt động (được khởi xướng bởi Vygotsky, Leontiev và Luria), với năm phần, của các tác giả từ mười quốc gia. Trong đó, phần đầu tiên của cuốn sách thảo luận về các vấn đề thuộc về lý thuyết hoạt động, phần thứ hai dành cho việc tiếp thu và phát triển ngôn ng , phần thứ ba bàn về sự kết hợp gi a trò chơi với các hoạt động học 10 tập và giáo dục, phần thứ tư đề cập đến ý nghĩa của công nghệ mới trong sự phát triển của các hoạt động và phần cuối cùng bao gồm các vấn đề về kết nối tri thức và công nghệ. [75] Năm 2005, Siemens đã cho rằng: Lý thuyết kết nối là một lý thuyết học tập trong thời đại kỹ thuật số phát triển, khi học tập không còn là hoạt động mang tính cá nhân; phong cách làm việc và chức năng hoạt động của mọi người đã bị thay đổi do sử dụng các công cụ mới. Trong lĩnh vực giáo dục, người ta đã thấy được tác động của các công cụ học tập mới và nh ng thay đổi về môi trường học tập.
Lý thuyết kết nối cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ năng học tập cho người học trong kỷ nguyên số. [120] Siemens (2006), đã phân loại lý thuyết kết nối dựa theo cách tổ chức cho người học hoạt động và khám phá kiến thức trong một hệ sinh thái học tập kiểu kết nối mạng. Sự phân loại bắt đầu từ cơ bản rồi chuyển sang phức tạp hơn. [122][123] Stephen Downes (2006) đã có bài viết về “Mạng lưới học tập và kết nối kiến thức”.
Mục đích của bài viết này là phác thảo một số suy nghĩ về công nghệ học tập điện tử mới, môi trường học tập và lý thuyết kết nối. Ông cho rằng kiến thức và việc học kiến thức không phải là cái để “chuyển giao” hoặc “giao dịch”, mà kiến thức nằm trong một mạng lưới các kết nối được hình thành từ kinh nghiệm và tương tác trong một cộng đồng hiểu biết; Người học là thành viên của hệ thống mạng, được trao quyền, được suy nghĩ và tương tác trong mạng lưới kết nối đó theo nh ng cách riêng. Đó là một cách tiếp cận học tập dựa trên các cuộc trò chuyện và tương tác, chia sẻ, sáng tạo và tham gia; việc học tập không phải là một hoạt động riêng biệt mà được nhúng vào các hoạt động có ý nghĩa như trò chơi, dự án. [72] 11 Rita Kop, Adrian Hill (2008) cho rằng lý thuyết kết nối đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển triết lý giáo dục mới, nó giúp người học ngày càng tự chủ hơn trong việc tìm hiểu kiến thức.
[116] Luận án của Suzanne Darrow (2009) nghiên cứu về lý thuyết học tập kết nối của Siemens. Tác giả đã nghiên cứu các nền tảng, điểm mạnh và điểm yếu của lý thuyết kết nối và tổng hợp kết luận thành một cơ sở kiến thức về các ứng dụng thực tế trong lớp học công nghệ ở bậc đại học. Tác giả đã chỉ rằng: Lý thuyết kết nối giúp sinh viên có được một phong cách học tập tích cực, sử dụng mạng xã hội thông minh và khuyến khích sinh viên tạo ra chương trình học tập phù hợp với mỗi cá nhân; Lý thuyết kết nối mở ra một viễn cảnh lạc quan khi các cá nhân cùng tạo ra kiến thức trong một môi trường toàn cầu được kết nối mạng. [129] Năm 2010, nhóm tác giả Mohamed Amine Chatti, Matthias Jarke và Christoph đã đề cập đến khái niệm về mạng học tập và việc học qua mạng.
Nhóm tác giả đã giới thiệu cách tiếp cận LTKN của Siemens và sau đó cung cấp một tài khoản cho các độc giả để có thể thảo luận về quan điểm học tập qua mạng. Sau đó, nhóm tác giả trình bày về hệ sinh thái tri thức, được xem như một bối cảnh xã hội phản ánh bản chất phức tạp và phạm vi rộng của các tri thức, đối chiếu hệ sinh thái tri thức với các hình thái xã hội phổ biến. [107] Frances Bell (2011) đưa ra nghiên cứu về vị trí của lý thuyết kết nối trong các công trình đổi mới dựa trên công nghệ. Theo tác giả công nghệ có thể mang đến nh ng cơ hội vàng nhưng có thể để lại một số kết quả không mong muốn.
Tuy nhiên chúng ta có thể học hỏi từ nh ng sai lầm của mình và có thể tối đa hóa các cơ hội thuận lợi trong tương lai. (2011) đưa ra mô hình kết nối chủ đề - một mô hình mới nhằm giảm bớt nh ng khó khăn trong học Toán. Ông chỉ ra các khía cạnh mà lý thuyết kết nối cùng với các kỹ thuật và phương pháp tiếp cận từ thực tiễn sẽ 12 giúp việc học đạt được hiệu quả hơn. Tác giả cung cấp một khung lý thuyết để hỗ trợ người học có cơ hội tiếp cận việc học Toán dựa trên sự kết nối thông tin với mạng lưới tri thức hiện có.
Tác giả cũng cho rằng mô hình kết nối cần được nghiên cứu nhiều hơn n a. [96] Nghiên cứu của Mehmet Şahin (2012) đã chỉ ra ưu điểm của LTKN là sử dụng nh ng nguồn học liệu có sẵn mà PPDH truyền thống khó có thể tận dụng được. Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu và vận dụng lý thuyết kết nối trong thời đại kỹ thuật số. [103] Stephen Downes (2012) khẳng định tầm quan trọng của các nguyên tắc trong LTKN của Siemens.
Trên cơ sở các nguyên tắc đó, ông cho rằng học tập theo LTKN là một quá trình hòa nhập vào môi trường, khám phá và giao tiếp. Học tập không phải là vấn đề chuyển giao kiến thức từ người dạy sang người học, mà là sản phẩm của chính người học trong quá trình lặp lại các hành vi sáng tạo, thực hành trong thực tiễn. [73] Snit Sitti, Saroch Sopeerak, Narong Sompong (2013) nghiên cứu khám phá mô hình giảng dạy dựa trên LTKN nhằm nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng thực hành nâng cao nhận thức, cải thiện hiệu quả học tập của sinh viên ở Thái Lan. (2013) mô tả một nghiên cứu về một lớp học trực tuyến mà họ đã tham gia.
Nghiên cứu này tập trung vào ứng dụng của LTKN trong thực tế. Các giả đã tổng quan về LTKN, ý nghĩa, ứng dụng của nó trong khóa học trực tuyến. Có thể xem khóa học này là một ví dụ về việc vận dụng LTKN trong học tập. GV trong các khóa học trực tuyến cần tạo cơ hội học tập nhiều hơn cho HS, cần tận dụng các công nghệ mới và sử dụng chúng theo nh ng cách mới hơn là dạy theo kiểu truyền thống trực tuyến.
Ý nghĩa của kết nối trong học tập trực tuyến nói chung và 13 trong lớp học trực tuyến nói riêng là rất lớn và hy vọng có thể có nhiều khóa học mới, nhiều cách học mới vận dụng LTKN. [48] Denzil Chetty (2013) đã xác định các nguyên tắc cốt lõi của LTKN và trình bày nh ng triển vọng của quá trình chuyển đổi sư phạm dựa vào công nghệ. Để làm như vậy, tác giả đề xuất thiết kế lại không gian học tập, trong đó việc học không còn là hoạt động mang tính cá nhân mà là một quá trình hoạt động để có được kiến thức thông qua việc kết nối thông tin gi a nh ng người học. Tác giả đưa ra khung học tập theo LTKN gồm bốn yếu tố (như các nút kết nối): Người học, Nội dung học tập, Bối cảnh học tập, Công nghệ học tập.
[66] Trong công trình của Jaszczyszyn E. và Szada-Borzyszkowska J. (2014), các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học theo LTKN qua sự so sánh cách học này với cách học nhờ sự hỗ trợ của CNTT và cách học truyền thống. Tác giả chỉ ra rằng, việc học theo LTKN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy và học.
(2015) đã nghiên cứu “Sử dụng LTKN trong việc đọc, viết thông tin với máy tính bảng”. Tác giả trình bày tổng quan về LTKN, mối quan hệ gi a LTKN với các nguồn thông tin về nh ng tri thức liên quan và việc sử dụng máy tính bảng trong quá trình dạy và học. Tác giả cung cấp một số ví dụ về cách tiếp cận đó và đề xuất trong tương lai nên đi sâu hơn n a vào mạng lưới học tập và sự kết nối gi a các tài nguyên nhờ sử dụng máy tính bảng. [55] Ann Hill Duin và Joseph Moses (2015) nghiên cứu về sự kết nối liên văn hóa thông qua mạng học tập cá nhân trên cơ sở vận dụng LTKN.
Các tác giả cho rằng học tập theo LTKN chuyển trọng tâm từ mối quan hệ giáo viên - học sinh, tác giả - khán giả sang mối quan hệ tri thức - kiến thức. Các tác giả đã trực quan hóa mạng cá nhân làm cho nh ng mối quan hệ đó trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn bởi nh ng người tham gia. Tác giả hy vọng các cộng đồng 14 truyền thông và kỹ thuật chuyên nghiệp sẽ tham gia khớp nối và khám phá các mối kết nối liên văn hóa tạo cơ hội thuận lợi cho việc học tập gi a các nền văn hóa khác nhau. [45] Nghiên cứu của Sigitas Daukilas, Judita Kasperiūnienė (2015) đã chỉ ra rằng: Trong các nghiên cứu quốc tế, vai trò của giáo viên và học sinh trong PPDH theo LTKN đã trở nên rõ ràng hơn và ngày càng có nhiều hơn nh ng PPDH kiểu này.
Từ đó các tác giả đi đến kết luận rằng giả thuyết “Học sinh ngày càng hài lòng hơn với các PPDH theo các nguyên tắc đặc trưng của LTKN” phần nào đã được chứng minh. [127] Nhóm tác giả AlDahdouh Alaa A., Osório, António J.