Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Phương pháp dạy học PPDH là khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau: Phương pháp thường được hiểu là con đường, là cách thức để đạt những mục tiêu nhất định. 43] PPDH là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được các mục tiêu dạy học. 85] Theo tác giả Thái Duy Tuyên trích dẫn: PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo HS lĩnh hội nội dung học vấn (I.
Phương pháp dạy học trực quan 1. Trực quan Trực quan là quá trình quan sát, nhận biết sự vật hiện tượng bằng các giác quan của con người. Phương pháp dạy học trực quan Theo tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: Phương pháp trực quan “là một loại PPDH có đặc điểm là học sinh tiếp thu kiến thức nhờ các giác quan tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng trong thực tiễn”. Mục đích của phương pháp dạy học trực quan Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học giúp học sinh quan sát với các mục đích sau: - Tiếp thu các kiến thức mới thông qua các hình ảnh và mô hình mà giáo viên đưa ra.
- Vận dụng các kiến thức đã học, kiến thức vừa tiếp thu để giải quyết bài toán. - Quan sát để khắc sâu kiến thức. Bản chất của phương pháp dạy học trực quan 1. Khái niệm Là cách thức hệ thống các cách sử dụng các phương tiện trực quan để học sinh trực tiếp cảm giác, tri giác chúng, trên cơ sở đó phát hiện, khai thác và lĩnh hội kiến thức.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phương tiện trực quan Phương tiện trực quan là các phương tiện để nhận thức, có chức năng làm cho đối tượng nhận thức được bộc lộ một cách trực quan. Trước đây phương tiện trực quan được hiểu là những sự vật, hiện tượng cụ thể hoặc hình ảnh của chúng được sử dụng trong dạy học. Ngày nay, các phương tiện trực quan được mở rộng: bên cạnh các phương tiện trực quan truyền thống còn có cả các phương tiện trực quan có tính hiện đại, các phương tiện nghe nhìn, “phương tiện đa năng” (Mutimedla)….
Phân nhóm phương pháp dạy học trực quan PPDH trực quan bao gồm: phương pháp trình bày trực quan (của giáo viên) và phương pháp quan sát (của học sinh). Phương pháp trình bày trực quan. Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới trong khi ôn tập, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Phương pháp trình bày trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh hoạ và trình bày: - Minh hoạ thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh hoạ như bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung các nhà khoa học, hình vẽ trên bảng… - Trình bày thường gắn liền với việc trình bày những thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video.
Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát trong quá trình nhận thức – học tập của HS, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn. Thông qua sự trình bày thí nghiệm của GV mà HS không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những động tác mẫu của GV, từ đó hình thành kỹ năng, kỹ xảo, …. Phương pháp quan sát Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đối tượng quan sát.
Quan sát là hình thức cảm tính tích cực nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng của thế giới xung quanh. Quan sát gắn chặt với tư duy. Quan sát được học sinh sử dụng khi GV trình bày phương tiện trực quan, phương tiện dạy học hoặc khi chính HS tiến hành làm việc trong phòng thí nghiệm. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học trực quan 1.
Ưu điểm - Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. Ví dụ, khi nghiên cứu bức tranh “Hình vẽ trên vách hang”, HS không chỉ có biểu tượng về săn bắn là công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc mà còn hiểu: nhờ chế tạo cung tên, con người đã chuyển hẳn từ hình thức săn bắt sang săn bắn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều đó giúp HS biết sự thay đổi trong đời sống vật chất của con người thời nguyên thủy luôn gắn chặt với tiến bộ trong kĩ thuật chế tác công cụ của họ.
- Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS. Hạn chế Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, giáo viên cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định.
Nếu sử dụng đồ dùng trực quan không khéo sẽ làm phân tán chú ý của HS, dẫn đến HS không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học. Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video, nếu GV không định hướng cho HS quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng học sinh sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng. 87] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số chú ý Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau: - Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp.
Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài học. - Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan. - Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của HS. - Phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan.
- Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của HS khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật. - Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng khác nhau. Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng nhiều nhất trong dạy học hiện nay là vật mẫu, bản đồ, sơ đồ, đồ thị, bảng niên biểu,. Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ bài học,.
Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan. - Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng học sinh trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, GV phải hướng dẫn HS sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải “can” theo sách. Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lý để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan. Cần chuẩn bị câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh quan sát và tự khai thác kiến thức.
Quy trình thực hiện phương pháp dạy học trực quan Có thể tóm tắt quy trình thực hiện PPDH trực quan như sau: - GV treo đồ dung trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kĩ thuật,… và nêu yêu cầu hướng cho sự quan sát của HS. - GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ,… tiến hành làm thí nghiệm, trình chiếu các thiết bị kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh, … 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - GV yêu cầu một hoặc một số HS trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh, … - Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi yêu cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải. Cơ sở khoa học của PPDH trực quan trong dạy học XS - TK ở phổ thông 1. Cơ sở triết học Bản chất của quá trình dạy học là tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học.
Con đường nhận thức đã được Lênin chỉ rõ: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan”. Theo quan điểm này, trực quan là xuất phát điểm của nhận thức.Trực quan sinh động được đặc trưng bởi quá trình tâm lý: cảm giác, tri giác, biểu tượng. Sự nhận thức này chỉ mới phản ánh thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng, để nhận thức bên trong thì cần xử lý trong óc những hình tượng cảm tính, loại bỏ những khía cạnh ngẫu nhiên, biến đổi, giữ lại những dấu hiệu cơ bản. Bản chất của sự vật, hiện tượng được nắm vững nhờ tư duy.
Như vậy trực quan sinh động – nhận thức cảm tính và tư duy – nhận thức lý tính là những bộ phận hữu cơ của quá trình lĩnh hội tri thức. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Bản chất và quy luật cần được kiểm tra và đánh giá qua thực tiễn. Thực tiễn “cao hơn” này lại trở thành trực quan sinh động cao hơn cho quá trình nhận thức.