Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học tạo lập VBHC-CV trong chương trình THCS theo lí thuyết giao tiếp - Chương 2: Tổ chức dạy học tạo lập VBHC-CV trong chương trình THCS theo lí thuyết giao tiếp - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (Lớp 7: Cụ thể là bài “Văn bản đề nghị”; “Văn bản báo cáo” và “Luyện tập làm văn bản đề nghị và báo cáo”-SGK Ngữ văn lớp 7-Dành cho HS THCS) 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN HÀNH CHÍNH-CÔNG VỤ TRONG CHƢƠNG TRÌNH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP 1. Văn bản hành chính-công vụ 1. Khái niệm văn bản Xã hội loài người được hình thành, tồn tại và phát triển là nhờ có hoạt động giao tiếp. Đó là sự trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm; bày tỏ mối quan hệ, cách ứng xử, thái độ của con người với con người và tất cả các vấn đề giao tiếp khác.
Để thực hiện được hoạt động giao tiếp, con người phải nhờ vào phương tiện quan trọng nhất là ngôn ngữ. Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ nói lại có nhiều hạn chế về không gian và thời gian. Để khắc phục nhược điểm đó, chữ viết ra đời. Ngôn ngữ tồn tại dưới dạng chữ viết chính là văn bản.
Một sản phẩm được gọi là văn bản không phụ thuộc vào câu chữ của nó. Nó thường bao gồm tập hợp của nhiều câu, nhưng trường hợp tối thiểu chỉ có một câu. Ví dụ: Một câu ca dao, một câu tục ngữ, một câu châm ngôn, một câu khẩu hiệu. được ghi lại.
Còn tối đa, văn bản có thể là một tập sách hoặc một bộ sách nhiều tập. Khi giao tiếp, người ta sản sinh ra văn bản và chính văn bản lại trở thành công cụ chuyển tải các ý tưởng cũng như cảm xúc của họ, làm cho hoạt động giao tiếp được thực hiện. Do đó, có thể nói, văn bản vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp. Theo SGK Ngữ văn 6: “Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp” [16, tr.
Văn bản có đặc trưng cơ bản là tính chỉnh thể, tính liên kết và tính mục đích. Dù dung lượng của văn bản thế nào thì nó cũng cần phải là một sản 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm mang tính chỉnh thể. Về nội dung, văn bản phải đáp ứng được hai yêu cầu là tính trọn vẹn và tính nhất quán về chủ đề. Về hình thức, tính chỉnh thể của văn bản bộc lộ ở kết cấu: tiêu đề, mở đầu, phần thân, phần kết.
Và trong VBHC-CV đó là ở các thành phần thể thức của văn bản. Đồng thời, mỗi văn bản hướng đến một mục tiêu nhất định. Như vậy, văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định. Khái niệm văn bản hành chính-công vụ Văn bản hành chính-công vụ (còn gọi là VBHC) là những thông tin quản lí thành văn mang tính áp dụng pháp luật hoặc chứa đựng những thông tin điều hành được cơ quan hành chính hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền ban hành nhằm giải quyết các công việc cụ thể, xác định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lí đối với người vi phạm pháp luật, được ban hành trên cơ sở quyết định chung và quyết định quy phạm của cơ quan cấp trên hoặc của chính cơ quan ban hành.
Văn bản hành chính là phương tiện không thể thiếu được trong các hoạt động tác nghiệp cụ thể của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội. Mặc dù có tầm quan trọng và giá trị pháp lí thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật nhưng VBHC là cơ sở thực tiễn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh sửa đổi hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo các tác giả SGK Ngữ văn 7: “Văn bản hành chính là loại văn bản thường dùng để truyền đạt những nội dung và yêu cầu nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết. Như vậy, đặc điểm của VBHC nói chung đó là văn bản tác nghiệp hành chính chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số các loại văn bản cần thiết phải soạn thảo, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ban hành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội.
Chủ thể ban hành VBHC là các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội với thẩm quyền và chức năng rất khác nhau trong hệ thống các cơ quan quản lí và các tổ chức xã hội. Nội dung truyền đạt của VBHC chủ yếu là thông tin quản lí mang tính hai chiều: theo chiều dọc từ trên xuống (các văn bản cấp trên chuyển xuống cấp dưới) và từ dưới lên (các văn bản từ cấp dưới chuyển lên cấp trên); theo chiều ngang gồm các văn bản trao đổi giữa các cơ quan ngang cấp, ngang quyền. Ngôn ngữ và văn phong trong VBHC vừa mang tính chất khách quan, trực tiếp, cụ thể, rõ ràng; vừa mang tính ngắn gọn, chính xác, đầy đủ. Việc sử dụng các thuật ngữ mang tính điển hình và tiêu chuẩn hóa cao, cách thức diễn đạt trong sáng, mạch lạc và logic thể hiện đúng mối quan hệ giữa chủ thể ban hành văn bản và đối tượng tiếp nhận văn bản.
Đặc trưng của văn bản hành chính-công vụ Tính chính xác, minh bạch, là tiêu chuẩn quan trọng nhất của VPHC-CV. Bởi VBHC-CV chứa đựng những thông tin hết sức quan trọng, liên quan tới sự tồn, vong, thành, bại của Nhà nước, của một cơ quan, tổ chức. Do vậy, việc diễn đạt thông tin phải chuẩn xác, mạch lạc là yêu cầu số một. Tức là ngôn ngữ trong VBHC-CV phải phản ánh đúng nội dung cần truyền đạt, phản ánh tường tận, sáng tỏ các vấn đề, không để người đọc, người nghe không hiểu nhầm hoặc hiểu sai ý.
Giữa các ý, các phần trong văn bản phải có sự gắn kết, tiếp nối theo một trật tự logic. Cụ thể là: Dùng từ ngữ nhất quán, đơn nghĩa; diễn đạt ý chính xác, rõ ràng, mạch lạc; viết câu chặt chẽ về ngữ pháp; chính xác về chính tả. Tính khuôn mẫu, là đặc trưng cơ bản của VBHC-CV, thể hiện ở các mức độ khác nhau ở cả thể thức và ngôn ngữ của văn bản. Đặc trưng này được biểu hiện ở cả thể thức và ngôn ngữ của văn bản.
So với các phong cách ngôn ngữ khác, VBHC-CV có tính quy ước rất cao. Hiện nay VBHC-CV phải có đầy đủ các thành phần được đặt ở những vị trí quy định theo Thông tư số: 01/2011/TT- 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kĩ thuật trình bày VBHC. Từng thể loại văn bản có mẫu trình bày riêng. Về ngôn ngữ, tính khuôn mẫu của VBHC-CV thể hiện ở việc thường dùng lặp đi lặp lại những từ, những câu, những cấu trúc có sẵn mà không bị coi là lỗi lặp từ, lặp câu.; - Theo đề nghị của.
có tên trên chịu trách nhiệm thi hành. Tính khuôn mẫu đảm bảo cho sự thống nhất, kỉ cương, chuẩn mực của văn bản; giúp cho việc tăng năng suất và chất lượng soạn thảo văn bản, tính được những sai sót trong quá trình soạn thảo văn bản; giúp thuận lợi cho việc lập hồ sơ, sắp xếp tài liệu trong công tác văn thư, lưu trữ. Tính khuôn mẫu còn giúp cho việc thực hiện văn bản dễ tiếp nhận nội dung thông tin, biết chỗ nào là quan trọng cần chú ý, chỗ nào có thể lướt qua; giúp người soạn thảo đỡ tốn công sức đồng thời giúp người đọc dễ lĩnh hội văn bản. Một VBHC-CV được soạn thảo đúng thể thức là một trong những yếu tố quyết định hiệu lực pháp lí của văn bản.
Tính nghiêm túc, trang trọng và lịch sự, văn bản là phương tiện giao tiếp, là phát ngôn chính thức của các cơ quan nhằm ban hành mệnh lệnh hoặc giải quyết công việc. Ngôn ngữ trong VBHC-CV phải hết sức nghiêm túc, đó là ngôn ngữ của lí trí. Và tính nghiêm túc được coi như là dấu hiệu đặc biệt của VBHC-CV. Vì thế, thể thức của một văn bản khẳng định tính nghiêm túc của một văn bản.
Sự tùy tiện thay đổi hình thức của văn bản là điều không thể cho phép, nó làm mất đi tính nghiêm túc, và mất đi tính hiệu lực của văn bản. Về phương diện sử dụng ngôn ngữ, tính nghiêm túc vốn là thuộc tính của ngôn ngữ sách vở, đi ngược lại với tính cảm xúc, tính bình giá chủ quan vốn là những thuộc tính của ngôn ngữ hằng ngày. Tính lịch sự trong VBHC-CV phản ánh trình độ văn hóa trong giao tiếp của cơ quan nhà nước, của tổ chức với 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công dân. Cho nên, trong VBHC-CV, cách xưng hô phải đúng thứ bậc hành chính.
Thường sử dụng cách diễn đạt có tính chất nghi thức, thể hiện phép lịch sự, xã giao. Ví dụ: Trân trọng thông báo hay Trân trọng kính mời. Tính khách quan, VBHC phải trình bày thông tin một cách khách quan, không thiên vị vì nó là tiếng nói quyền lực Nhà nước, của tập thể chứ không phải là tiếng nói của cá nhân.Văn bản hành chính có thể được giao cho một cá nhân soạn thảo song người soạn thảo phải luôn xác định nhân danh cơ quan, tổ chức trình bày, thực hiện ý chí của Nhà nước, ý chí tập thể một cách khách quan, không được tự ý đưa quan điểm riêng của mình vào trong văn bản. Tính khách quan được biểu hiện cụ thể: Thông tin trình bày trong văn bản phải đúng với hiện thực khách quan, không bị hư cấu.
Nghĩa là không được thêm bớt, bóp méo thông tin. Vì thế, ngôn ngữ phải khách quan, không dùng từ biểu cảm; không dùng các danh từ chỉ mối quan hệ thân thuộc để xưng hô giữa các cơ quan hay cá nhân trong quá trình giải quyết công việc. Tính phổ thông, đại chúng, đối tượng tiếp nhận VBHC-CV là nhiều tầng lớp nhân dân. Vì vậy ngôn ngữ biểu đạt phải mang tính phổ thông, đại chúng, dễ hiểu, dễ tiếp thu.
và cũng cần viết cho phù hợp với trình độ người tiếp nhận.