Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Một số biện pháp tổ chức dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại cho học sinh lớp 12 trung tâm GDTX theo quan điểm sư phạm tương tác. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINH LỚP 12 Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.
Tích cực hóa hoạt động học tập của HS * Thế nào là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ của thầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học. Nhiều nhà vật lý học trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới. Trong đó, học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức.
Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới. Như vậy tích cực hóa hoạt động học tập của người học là đề cao tính tích cực, chủ động học tập của người học dưới sự hướng dẫn của GV, nhằm đạt được mục tiêu cần đạt của mỗi bài học. * Phương pháp dạy học tích cực là gì ? - Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên tổ chức các hoạt động học tập để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Nghĩa là trong quá trình giảng dạy giáo viên không cung cấp cho học sinh những kiến thức dưới dạng đã “chuẩn bị sẵn” mà phải tổ chức, hướng dẫn học sinh huy động những vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự khám phá chiếm lĩnh tri thức mới, rồi vận dụng các tri thức mới trong thực hành.
* Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo quan điểm tích cực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa hoạt động học tập của học sinh Vận dụng tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của HS vào thực tiễn giảng dạy môn Ngữ văn, các nhà nghiên cứu PPDH trong thời gian qua đều gặp gỡ ở quan niệm chung là: người học không thể giữ vai trò thụ động nghe, ghi, chấp nhận và làm theo mẫu… trong quá trình học tập. Tích cực hóa hoạt động học tập của người học là đề cao tính tích cực, chủ động học tập của người học dưới sự hướng dẫn của GV, nhằm đạt được mục tiêu cần đạt của mỗi bài học. Theo định hướng đổi mới PPDH, vai trò độc tôn của GV trong giờ học Ngữ văn cần giảm đến tối thiểu. Ở nhà trường phổ thông, sự thuần nhất về đối tượng người học, mục tiêu, hình thức, điều kiện dạy và học… nên GV có thể tiến hành giờ dạy trên lớp theo những gợi ý, hướng dẫn về phương pháp của SGK và sách giáo viên vì những câu hỏi, bài tập đều được biên soạn theo đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS THPT.
Ở các lớp của Trung tâm GDTX, do sự đa dạng về đối tượng học viên, hình thức và điều kiện dạy học, nếu áp dụng cách tổ chức dạy học và phương pháp như SGK và sách giáo viên không thể đạt được chất lượng, hiệu quả mong muốn, thậm chí có khi còn có tác dụng ngược lại. Việc sử dụng chung SGK THPT có thuận lợi cho người dạy là có thể căn cứ vào những hướng dẫn hoạt động chính trong tiết học để thực hiện giờ học. Bên cạnh đó người dạy phải xuất phát từ thực tế đối tượng người học Trung tâm GDTX để lựa chọn một phương pháp phù hợp. Gắn với thực tiễn của nhà trường Trung tâm GDTX Việt Nam hiện nay, cách tiến hành đổi mới PPDH trong mỗi giờ học Ngữ văn có hiệu quả với mỗi GV là: - Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các PPDH nhằm phát huy tính tích cực học tập của đối tượng người học (người học được suy nghĩ, tìm tòi nhiều hơn, thực hành nghe, nói, đọc, viết nhiều hơn trên vốn kiến thức, kĩ năng văn học, tiếng Việt, làm văn mà họ đã có…) - Nắm vững nội dung bài học và năng lực học tập bộ môn của người 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học để từ đó xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm tổ chức, hướng dẫn người học tích cực, chủ động học tập, chú trọng bồi dưỡng và phát triển năng lực nghe, nói, đọc, viết, cảm thụ văn học của họ.
- Giúp người học sử dụng SGK, SBT một cách có ý thức và hiệu quả, đồng thời uốn nắn, hướng dẫn cách tự đọc, tự học phù hợp với vốn kinh nghiệm và năng lực vốn có của họ. - Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức tổ chức học tập tùy theo điều kiện thực tiễn (dạy học đồng loạt, dạy học theo nhóm, dạy học tự chọn…) tạo không khí học tập thích hợp để người học có thể trao đổi với nhau, với GV và tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn. - Tăng cường kiểm tra đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhau, coi kiểm tra đánh giá như là một biện pháp kích thích hứng thú học tập, giúp người học tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục những sai sót, hạn chế (nếu có) trong quá trình tìm hiểu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kỹ năng bộ môn. - Tăng cường sử dụng các thiết bị, đồ dùng và phương tiện dạy học với tư cách là phương tiện nhận thức chứ khống đơn thuần chỉ là sự minh họa.
Như vậy cơ sở của dạy học tích cực nói chung xuất phát từ những quan niệm dạy học hiện đại, đáng chú ý là quan niệm dạy học lấy người học làm trung tâm, sản phẩm của nhiều nhà sư phạm trên thế giới, điển hình là Jean- Marc Denomm'e và Madeleine Roy. Quan niệm này đề cao sự tương tác trong quá trình dạy học, đó là sự tương tác giữa HS với GV, HS với HS, HS với tác phẩm, HS với môi trường…. tất cả các yếu tố đó tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Tóm lại, việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào tổ chức các hoạt động dạy học có tác dụng tích cực hoá hoạt động tiếp thu tri thức của HS, tạo được sự hứng thú cho HS trong quá trình học tập.
Tạo điều kiện cho GV thực hiện các hoạt động dạy học nhẹ nhàng và hiệu quả. Về quan điểm sư phạm tương tác 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở khoa học của quan điểm sư phạm tương tác Quan điểm sư phạm tương tác có cơ sở khoa học bắt nguồn từ việc hiểu được bản chất của sự học, bản chất tự nhiên của con người, dựa trên những thành tựu nghiên cứu của sinh lí học, vật lí, hóa học đặc biệt là dựa trên những nghiên cứu của khoa học thần kinh. Dựa vào khoa học thần kinh nhận thức ở người với những nghiên cứu về cấu tạo của hệ thần kinh và hoạt động của não bộ từ đó đề xuất ra lí thuyết dạy học mới dựa trên sự tương tác giữa các đối tượng mà cụ thể là giữa người học, người dạy và môi trường của họ.
SPTT đặc biệt quan tâm đến cơ chế hoạt động của bộ thần kinh – Bộ máy học – cơ sở sinh học của hoạt động học. Người ta cho rằng quá trình dạy học về bản chất là quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Giống như những động vật khác, con người sinh ra đã có sẵn một vốn kiến thức làm cơ sở cho hành động, được điều khiển bởi những phản xạ không điều kiện (bẩm sinh, di truyền). Quá trình học là quá trình hình thành các hành vi, các tác động phản xạ có điều kiện, tác nhân kích thích là những hệ quả của các hành vi đó.
Cơ chế học là cơ chế hình thành các hành vi tác động phản xạ có điều kiện trong môi trường sống của chủ thể. Trên cơ sở sinh học, QĐSPTT đặc biệt quan tâm tới bộ máy học – cơ sở sinh học của hoạt động học, đó cũng là cơ sở cho những tác động sư phạm của người dạy khi điều khiển hoạt động học của người học. Bộ máy học được mô tả bởi sơ đồ sau: 5 giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác và vị giác Ngoại biên Nowrron: Tế bào, sợi trục, sọi nhánh, sináp Hệ thống thần kinh Não nguyên thủy: Chức năng tồn tại Não cổ: Khứu não Trung ƣơng Bán cầu đại não cổ: Não người Bán cầu phải Bán cầu trái Sơ đồ 1. Sơ đồ bộ máy học 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Bộ máy học” có tính năng động trong việc tiếp nhận và xử lí thông tin, chuyển hóa những thông tin thành những tri thức hữu ích cho người học.
* Vai trò của các giác quan đối với người dạy: Người dạy điều chỉnh phương pháp tiến hành sư phạm của mình theo đường đi bình thường mà người học chọn trong quá trình học của mình. Người học cần sử dụng các giác quan, người dạy cần hướng dẫn chu đáo người học; giúp đỡ người học trong thao tác này. Chính vì vậy, người dạy sẽ cố gắng “đập” vào các giác quan của người học hoặc gợi ý hoặc khơi dậy ở người học nhớ về kinh nghiệm đã qua. Nếu người dạy kích thích được nhiều các giác quan thì sẽ làm phong phú các kinh nghiệm, các dấu ấn ở người học.
Nếu tất cả người học đều được tác động vào các giác quan thì họ sẽ hứng thú và nâng cao được hiệu quả học tập. Ngoài ra QĐSPTT cũng có cơ sở khoa học từ việc nghiên cứu các năng lực bổ trợ của hệ thần kinh như vai trò của trí nhớ, ngôn ngữ, sự chú ý đối với việc học tập của người học. Trí nhớ có chức năng lưu dữ và gợi lại các thông tin hoặc dữ liệu đã được lĩnh hội ở các bậc giác quan. Học không có nghĩa là chỉ đối diện với các tri thức mới thông tin mới; đó còn là việc huy động tổng thể các tri thức, kiến thức đã được lưu dữ trong trí nhớ.
Trí nhớ can dự vào tất cả các hoạt động tri thức và nhận biết.