phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Lời cảm ơn, Phụ lục, Luận văn bao gồm các chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Dạy học truyện cổ tích từ góc nhìn văn hóa. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái lƣợc về văn hóa. Văn hóa là một danh từ đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong tất cả các cộng đồng, các nhóm xã hội khác nhau, với những cách hiểu khác nhau. Vì vậy, khi đi tìm hiểu về văn hóa với tƣ cách là một khái niệm khoa học, chúng ta cần phải khái quát lại những tri thức, kinh nghiệm cũng nhƣ những ý kiến xung quanh khái niệm này. Theo các nhà ngôn ngữ học, từ culture (văn hóa) - với tƣ cách là một danh từ độc lập - chỉ bắt đầu đƣợc sử dụng ở châu Âu vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII.
Mặc dù trƣớc đó rất lâu, khoảng đầu thế kỉ II TCN, ở La Mã, nhà triết học Xixeron đã gắn văn hóa với hoạt động trí tuệ của con ngƣời, để sau đó văn hóa đƣợc chuyển từ nghĩa đen “gieo trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc”. Ngƣời đầu tiên có công đƣa từ culture vào trong khoa học là S. Pufendorf - nhà nghiên cứu pháp luật ngƣời Đức đã sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con ngƣời tạo ra, để nói về tính chất khai trí, có học vấn, có giáo dục của con ngƣời: “Văn hóa là của con người, do con người và cho con người nên văn hóa gắn với cách nghĩ, cách nói, cách làm của con người mang tính xã hội mà bản chất của con người này là con người sáng tạo, đối lập với con người tự nhiên chỉ biết thừa hưởng một cách sinh vật mọi thứ từ tự nhiên. Chỉ khi con người tự nhiên chuyển sang con người xã hội thì lúc đó mới xuất hiện văn hóa”[5, tr.
Nhóm định nghĩa tâm lý học đã có những định nghĩa riêng của mình về văn hóa. Ngƣời đại diện cho nhóm này là W.Summer đã viết: “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa”[10, tr. Một đại diện khác là R. Benedict định nghĩa “Văn hóa như hành vi ứng xử có được mà mỗi người cần phải nắm lại từ đầu”[10, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tƣ duy đã nhấn mạnh đến các hành vi ứng xử và sự thích nghi với môi trƣờng mang nặng tính truyền thống của con ngƣời. Nhóm định nghĩa cấu trúc, học giả Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã đƣa ra một quan niệm rõ ràng về văn hóa. Ông cho rằng “Văn hóa tức là sinh hoạt” - tức là một kiểu hình thức sinh tồn của xã hội. Ông chú trọng đến khía cạnh cấu trúc của văn hóa, bởi sinh hoạt của con ngƣời bao gồm nhiều phƣơng diện, kể cả vật chất, cách ứng xử và đời sống tinh thần Trong cuốn Cơ sở văn hóa của tác giá Trần Quốc Vƣợng đã trích dẫn quan điểm của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[27, tr. Cựu thủ tƣớng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải tự nhiên mà liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử … cốt lõi của sự sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[27, tr. Theo Unesco, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”[27, tr. Có thể nói, mỗi một nhóm, trƣờng phái, một tác giả đều có những phát kiến hay nêu đƣợc cụ thể một phƣơng diện nào đó nhƣng không một định nghĩa nào có thể coi là một định nghĩa hoàn chỉnh về văn hóa. Từ những định nghĩa trên ta luôn thấy đƣợc điểm chung là văn hóa luôn bao gồm những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của con ngƣời.
Nó gắn liền với đời sống thực tiễn xã hội. Văn hóa luôn gắn với vai trò của con ngƣời trong việc sáng tạo và phát triển nó. Con ngƣời thông qua các hoạt động trong đời sống xã hội vừa làm phong phú thêm các giá trị văn hóa cho dân tộc, vừa tự bồi đắp kiến thức văn hóa cho bản thân mình.2 Các đặc trưng cơ bản của văn hóa Văn hóa là một chỉnh thể rộng lớn và toàn diện. Trong bất kì hiện tƣợng nào của đời sống cũng có yếu tố văn hóa hay khía cạnh văn hóa, Vì vậy, văn hóa có một số đặc trƣng sau: 1.1 Tính truyền thống của văn hóa Văn hóa không phải là một cái gì đó cụ thể, không hình khối, không sờ mó đƣợc nhƣng văn hóa lại có mặt ở mọi nơi, không một lĩnh vực, hoạt động xã hội nào lại không có mặt văn hóa.
Bởi vì văn hóa chính là cách lựa chọn, cách ứng xử của con ngƣời trong quá trình sống, học tập và lao động. Nó đƣợc hình thành trong lịch sử, dƣới tác động của môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội mà tạo thành. Vì vậy, văn hóa mang tính ổn định tƣơng đối thể hiện ở những khuôn mẫu xã hội, đƣợc tích lũy và tái tạo trong cộng đồng ngƣời qua 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không gian, thời gian, kết tinh ở phép nƣớc lệ làng, các tín điều luân lí, các chuẩn mực giá trị, phong tục tập quán, lễ nghi luật pháp. Một hiện tƣợng mới nảy sinh, chƣa qua thử thách, chƣa đƣợc thừa nhận và lựa chọn thì không thể đƣợc gọi là truyền thống văn hóa.
Ngƣợc lại, những gì đã đƣợc cộng đồng thừa nhận, gìn giữ trong thời gian dài, đã trở thành thuộc tính sâu rễ bền gốc trong cộng đồng nhƣ một thành tố văn hóa, truyền thống văn hóa thì thật khó có thể xóa bỏ hay thay đổi. Các giá trị văn hóa đƣợc bảo lƣu và chuyển giao qua nhiều thế hệ của đời sống xã hội làm thành truyền thống. Nói đến tính truyền thống cũng có nghĩa nhấn mạnh mặt ổn định tƣơng đối của văn hóa. Nó là hệ thống giá trị tinh thần và vật chất, nó có thể hữu hình hoặc vô hình cụ thể là các phong tục, tập quán, thói quen, hành vi, lối sống, lối tổ chức của một dân tộc hay một xã hội đã đƣợc gia đình và xã hội tích lũy và truyền lại.
Ví dụ ngƣời Việt Nam thƣờng trọng tình cảm hơn lý trí, luôn tƣ duy “ăn cho mình mặc cho ngƣời” tức là nghĩ cho ngƣời khác trƣớc khi nghĩ đến bản thân mình, tôn trọng gia đình hay những quy tắc ứng xử “kính trên nhƣờng dƣới”, “Uống nƣớc nhớ nguồn”, những luật lệ, đạo lí về “tam tòng tứ đức” đối với ngƣời phụ nữ từ ngàn đời. Đó chính là những truyền thống văn hóa của ngƣời Việt Nam.2 Tính nhân bản của văn hóa Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con ngƣời. Văn hóa thƣờng đƣợc coi là tiêu chuẩn để phân biệt con ngƣời với đồ vật, là cái chỉ có ở con ngƣời, là những giá trị do con ngƣời tạo ra. Chỉ con ngƣời mới có văn hóa, các loài vật khác dù có cao cấp đến đâu cũng hành động theo bản năng sinh tồn.
Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con ngƣời. Văn hóa không có tính di truyền, nó là sự chuyển giao một cách tự nhiên từ thế hệ này tới thế hệ khác qua con đƣờng giáo dục, học tập và thấm nhuần. Vậy nhân bản là gì? Nhân là ngƣời, bản là gốc, có thể coi là cái gốc của con ngƣời, là cái gốc của đạo làm ngƣời. Truyền thuyết “Con rồng, cháu Tiên” đồng bào bọc trăm trứng là nét văn hóa đặc thù 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của dân tộc.
Nó là niềm tin vào nguồn gốc siêu nhiên, cao đẹp của giống nòi và tình cảm ruột thịt của dân bản. Tính nhân bản ở đây là văn hóa cộng đồng, dân tộc mặc nhiên công nhận con ngƣời Việt Nam bẩm sinh bản chất phi thƣờng, đƣợc chứng minh qua lịch sử qua những câu chuyện về Thánh Gióng, Thạch Sanh hay Trƣơng Chi…. Tính nhân bản không chỉ thể hiện ở bản năng, ở cái gốc của con ngƣời mà nó còn là sự tác động của con ngƣời đối với thế giới thế giới tự nhiên và xã hội để làm thay đổi cái gốc, thay đổi tƣ duy của một sự vật, hiện tƣợng nào đó. Bởi văn học là phƣơng tiện phong phú để phát huy văn hóa.
Nhƣng muốn nó là thứ Văn hóa có thể “đƣa dân tộc từ chỗ đồi trụy đến chỗ thanh cao”, phải có tính nhân bản. Khi con ngƣời sống trong xã hội, họ tác động đến hình thức xã hội, cải tạo xã hội, làm cho nó phát triển theo mục đích tác động của mình. Tuy nhiên, vai trò của cá nhân từng con ngƣời trong xã hội khác nhau, họ sẽ tác động đến xã hội ít nhiều, mạnh yếu khác nhau, đặc biệt là những ngƣời có vai trò thống trị xã hội.