phần mở đầu, các danh mục bảng biểu, kết luận và khuyến nghị và tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Dạy học tình huống đối với chủ đề “Phƣơng pháp tọa độ trong mặt phẳng” Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu của Lý thuyết tình huống Việc xây dựng và sử dụng tình huống từng đƣợc biết đến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng nhƣ trong công tác giáo dục – đào tạo ở các nƣớc trên thế giới và ở Việt Nam. Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài Ở thời kì Cổ đại, dạy học tình huống đã đƣợc sử dụng, tiêu biểu là Đức Khổng Tử (551 – 487 TCN). Những tình huống đó chính là những bài học, triết lí sống quý báu nhằm răn dạy, giáo dục đạo đức, lối sống cho con ngƣời và những thế hệ sau.
Nhƣ vậy, dạy học tình huống đã xuất hiện trong lịch sử giáo dục thế giới từ rất xa xƣa. Ở phƣơng Đông, Nhật Bản và Hàn Quốc, đƣợc biết đến là hai đất nƣớc với nền giáo dục hiện đại, cũng quan tâm, nghiên cứu và sử dụng phƣơng pháp này cho giáo dục nƣớc nhà. Nhật Bản áp dụng dạy học tình huống trong nhiều lĩnh vực khoa học, giáo dục khác nhau, đặc biệt là trong ngành quản lí và du lịch. Đất nƣớc Hàn Quốc chú trọng tới việc rèn cho ngƣời học năng lực giải quyết vấn đề.
Các nƣớc phƣơng Tây sớm quan tâm, nghiên cứu và áp dụng phƣơng pháp này trong ngành giáo dục – đào tạo. Ở Mỹ, tại trƣờng Đại học Kinh doanh Havard vào những năm 1870, giáo sƣ Christopher Columbus Langdell là ngƣời khởi xƣớng dạy học tình huống cho khoa Luật. Trƣờng Đại học Western Ontario của Canada cũng đã bắt đầu sử dụng phƣơng pháp giảng dạy này vào năm 1919. Dạy học tình huống đƣợc áp dụng tại Pháp từ đầu thế kỉ XX.
Tuy nhiên, từ những năm 60 trở đi, phƣơng pháp này mới đƣợc quan tâm, nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau nhờ tiếng vang từ Gaston de Vilard. Ông đã xây dựng một giáo trình luân lí với những tình huống có thật, trong đó thầy giáo xác định một số vấn đề lý thuyết ngắn gọn, tình huống cụ thể để học sinh tranh luận với nhau, cuối cùng thầy giáo tổng kết, chốt ý và đƣa ra kết luận. Ở Liên Xô (cũ) và Ba Lan, phƣơng pháp dạy học nêu vấn đề và dạy học giải quyết vấn đề đƣợc quan tâm, xuất hiện nhiều trong các tài liệu về lí luận dạy học. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kiểu dạy học tình huống này nhấn mạnh mối quan hệ tƣơng tác giữa GV và HS, trong đó hoạt động của GV đƣợc chú ý.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, dạng học tập dựa trên vấn đề và học tập định hƣớng tới vấn đề đƣợc các tác giả phƣơng Tây nhƣ L. Phƣơng pháp này đề cao, chú trọng tới hoạt động của ngƣời học, GV chỉ là ngƣời hƣớng dẫn, định hƣớng. Bên cạnh đó, một kiểu dạy học tình huống nữa đó là lý thuyết tình huống đƣợc các nhà lí luận dạy học Pháp đƣa ra và vận dụng nó vào quá trình dạy học, đứng đầu là Guy Brousseau. Tóm lại, dạy học tình huống đã đƣợc sử dụng từ rất lâu đời, áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Đó là một phƣơng pháp dạy học tích cực, hữu hiệu trong nền giáo dục hiện đại, ngày càng đƣợc quan tâm và phát triển. Tổng quan nghiên cứu ở trong nước Từ thời xa xƣa, ông cha ta đã sử dụng phƣơng pháp xử lí tình huống trong những câu chuyện cổ tích, truyện dân gian, truyện ngụ ngôn. Đó là những răn dạy để đời cho con cháu, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác mà ý nghĩa không hề thuyên giảm. Trong cuộc sống xã hội, những cuộc chuyện trò, những câu chuyện thƣờng nhật, những cuộc tranh luận, trao đổi về một vấn đề gì đó đang diễn ra hàng ngày hàng giờ, dƣới nhiều hình thức, ở mọi lứa tuổi.
Những chƣơng trình truyền hình, những cuộc thi, những bài báo, tạp chí cũng có các mục về tình huống, ứng xử tình huống. Nhƣ vậy, phƣơng pháp tình huống đƣợc vô cùng quan tâm và có tầm quan trọng trong cuộc sống của con ngƣời. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, lý thuyết tình huống đƣợc giới thiệu vào Việt Nam từ năm 1990. Các nhà lý luận dạy học Pháp nhƣ Anne Bessot, Francoise Richard tại Hội nghị chuyên đề Didactic Toán do trƣờng Đại học Sƣ phạm Huế tổ chức (1990) [1] và Claude Comiti (1991) [2] đã khái quát lý thuyết tình huống, sự vận dụng lý thuyết tình huống vào dạy học Toán.
Theo Nguyễn Bá Kim, đây là một phƣơng pháp dạy học có chứa đựng nhiều yếu tố phù hợp với định hƣớng đổi mới 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phƣơng pháp dạy học của chúng ta, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nƣớc [10]. Hiện nay, số lƣợng các công trình nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học tình huống hay cụ thể là lý thuyết tình huống đã tăng lên rất nhiều, phong phú, đa dạng về cả hình thức, nội dung và phạm vi áp dụng. Cơ sở khoa học của Lý thuyết tình huống 1. Cơ sở triết học Lý thuyết tình huống đƣợc xây dựng nên trên cơ sở triết học là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nhằm giải quyết mâu thuẫn.
Đó là một trong những quy luật cơ bản của sự phát triển. “Mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển” [8]. Do đó, mỗi con ngƣời đều cần có sự “đấu tranh mâu thuẫn” và giải quyết mâu thuẫn mới có thể phát triển đƣợc. Khi một tình huống học tập đƣợc thầy giáo gợi ra cho học sinh, mâu thuẫn sẽ xuất hiện đối với học sinh.
Những kinh nghiệm, kiến thức học sinh đã có xảy ra sự không phù hợp, không “ăn khớp” với nội dung tình huống đặt ra. Học sinh cần phải linh hoạt tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn sao cho phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nhƣ vậy, quá trình dạy học với các tình huống dạy học xuất hiện liên tiếp, chứa đựng sự mâu thuẫn và sự mất cân bằng sẽ khiến học sinh phát triển tƣ duy logic, phát triển vốn kiến thức và ngày càng ở mức cao hơn. Cơ sở tâm lý học Mỗi lý thuyết dạy học đều xuất phát, bắt nguồn từ một lý thuyết tâm lý học.
Cơ sở tâm lý học của lý thuyết tình huống là thuyết Phát sinh nhận thức, phát triển đạo đức của Jean Piaget. Ông là nhà tâm lý học lỗi lạc ngƣời Thụy Sĩ, sinh ngày 09 – 08 – 1896 và mất ngày 16 – 09 – 1980. Piaget mô tả có hai quá trình mà mỗi cá nhân sử dụng để cố gắng thích nghi với môi trƣờng: - Đồng hoá (assimilation): quá trình tiếp nhận thông tin mới bằng sự hợp nhất nguồn thông tin mới với các cấu trúc có sẵn mà không làm thay đổi chúng. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Dị hoá/điều ứng (accommodation): sự thay đổi một cấu trúc tinh thần để thu thông tin mới vào.
Dị hoá ngƣợc lại là sự thay đổi các biểu đồ đã có để tích hợp kinh cũ và kinh nghiệm mới. Phần lớn các tình huống học tập có sự tác động qua lại của hai quá trình: chúng ta giải thích những gì chúng ta trải nghiệm, từ đó chúng ta biết đƣợc kinh nghiệm mới có phù hợp với những kinh nghiệm cũ hay không, chúng ta phân biệt và nghiên cứu những sự khác biệt đó (Piaget, 1950). Sự phát triển bình thƣờng đƣợc đặc trƣng bởi sự cân bằng giữa đồng hoá và điều ứng. Cơ sở giáo dục học Trong dạy học giáo viên phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa việc nắm vững chắc các tri thức, kĩ năng và việc phát triển năng lực nhận thức của học sinh.
“Dạy học là con đƣờng, là phƣơng tiện để phát triển trí tuệ và ngƣợc lại, sự phát triển trí tuệ của học sinh vừa là kết quả của sự nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, vừa là điều kiện để học sinh chiếm lĩnh tri thức có hiệu quả cao hơn”. “Hoạt động dạy và hoạt động học thống nhất biện chứng cho nhau. Nó đòi hỏi trong quá trình dạy học, muốn đạt kết quả tối ƣu phải phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh dƣới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên”. Đixtecvec đã nhấn mạnh: “Ngƣời thầy giáo tồi mới mang chân lí đến cho học sinh còn thầy giáo giỏi phải dạy cho họ cách tìm ra chân lí” [4].
Cần có sự thống nhất giữa vai trò định hƣớng của giáo viên và sự tích cực trong hoạt động của học sinh. Dựa trên cơ sở giáo dục học đó, lý thuyết tình huống ra đời với mục đích nâng cao hiệu quả, chất lƣợng dạy học, nhằm phát triển tốt nhất các năng lực nhận thức cho học sinh. Ta sẽ đi tìm hiểu lý thuyết tình huống bắt đầu bằng việc nghiên cứu hệ thống dạy học. Hệ thống dạy học tối thiểu theo Lý thuyết tình huống 1.
Khái niệm Theo Guy Brousseau (1986), “Để tạo ra, cải tiến, tái tạo, mô tả và hiểu rõ các tình huống dạy học, điều cần thiết có thể thực hiện là phải lý thuyết hoá hoạt động 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạy học này, xem đó là một đối tƣợng nghiên cứu độc đáo, chứ không phải là một sự kết hợp đơn giản của những sự kiện đã đƣợc lý thuyết hoá chỉ trong những lĩnh vực độc lập nhƣ sƣ phạm học, xã hội học, tâm lý học, toán học, ngôn ngữ học và khoa học luận”. Cái mà tác giả gọi là “lý thuyết hoá hoạt động dạy học” chính là hệ thống dạy học tối thiểu [7]. Cấu trúc Trong hệ thống dạy học chứa đựng hoạt động dạy của giáo viên, đó là những hoạt động nhằm mục đích truyền đạt cho học sinh một tri thức xác định. Theo lý thuyết tình huống, hệ thống dạy học tối thiểu bao gồm bốn thành phần: tri thức, giáo viên, học sinh và môi trường.
Các thành phần này tạo thành các đỉnh của một tứ diện sƣ phạm. Hệ thống dạy học tối thiểu Sơ đồ 1.1 biểu thị những tác động qua lại giữa giáo viên – học sinh – môi trƣờng đối với tri thức trong hệ thống dạy học [7]. Sau đây ta sẽ đi tìm hiểu, nghiên cứu từng thành phần này.