Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chương 2: Đề xuất các biện pháp dạy học thơ Xuân Quỳnh theo hướng khai thác tín hiệu thẩm mĩ Chương 3: Thực nghiệm dạy học thơ Xuân Quỳnh trong nhà trường theo hướng khai thác tín hiệu thẩm mĩ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Dạy học Ngữ văn ở trƣờng phổ thông theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh 1. Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (PTNL) hay dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.
Ở Việt Nam, CT dạy học định hướng PTNL cho HS do Bộ GD&ĐT ban hành hướng tới mục tiêu phát triển năng lực, phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách và tư cách chủ thể HS thông qua các nhóm năng lực. CT giáo dục định hướng PTNL mô tả chi tiết năng lực, kết quả học tập của HS, qua đó GV có thể quan sát, đánh giá trình độ HS. TS Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier cho rằng, “nội dung dạy học theo quan điểm PTNL không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực”[12, tr.48] qua bảng dưới đây: Bảng 1. Nội dung dạy học theo quan điểm PTNL Học nội dung Học phƣơng pháp - Học giao tiếp - xã Học tự trải nghiệm - chuyên môn chiến lƣợc hội đánh giá - Các tri thức - Lập kế hoạch học tập, - Làm việc trong - Tự đánh giá điểm chuyên môn (các kế hoạch làm việc; nhóm; mạnh, điểm yếu; khái niệm, phạm trù, - Các phương pháp nhận - Tạo điều kiện cho - Xây dựng kế hoạch quy luật, mối quan thức chung: Thu thâp, sự hiểu biết về phát triển cá nhân; hệ…); xử lý, đánh giá, trình phương diện xã hội; - Đánh giá, hình thành - Các kỹ năng bày thông tin; - Học cách ứng xử, các chuẩn mực giá trị, chuyên môn; - Các phương pháp tinh thần trách đạo đức và văn hoá, - Úng dụng, đánh chuyên môn nhiệm, khả năng lòng tự trọng … giá chuyên môn giải quyết xung đột.
Năng lực chuyên Năng lực phương pháp Năng lực xã hội Năng lực cá thể môn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương pháp dạy học theo quan điểm PTNL giúp HS “rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn” [12, tr. Dạy học theo định hướng PTNL HS đòi hỏi, yêu cầu cả người học và người dạy năng lực cao và khó hơn so với trước đây, nhưng lại tiếp cận gần hơn với mục tiêu giáo dục. HS cần phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,.), trên cơ sở đó trau dồi kỹ năng độc lập tư duy và khả năng sáng tạo. Khái niệm năng lực Trong giới nghiên cứu giáo dục Việt Nam và quốc tế, từ năng lực được sử dụng gắn với nhiều tình huống và ngữ cảnh khác nhau.
Một số học giả nước ngoài đã đưa ra quan điểm về năng lực, nhấn mạnh việc vận dụng kỹ năng, kỹ xảo trong thực tiễn giáo dục. Nhà tâm lý học P. Ruddich (Nga) cho rằng, “năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định” [62, Tr. Nhà nghiên cứu John Erpenbeck (Đức) nhận định rằng, “năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua chủ định” [50].
Theo học giả Weinert (Đức), “năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [50, Tr. Quan niệm về giáo dục phổ thông ở Canada cho rằng, “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân.v…, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [4] hay “năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường và cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”[4]. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực, có ý kiến cho rằng, “năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó; (2) Là một phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [6, Tr.114] hay “năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [13, Tr.
Theo tác giả Thành Ngọc Bảo, năng lực “là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống. Từ đó chúng ta có thể nhận định năng lực của học sinh phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em” [3, Tr. Bản Dự thảo Đề án đổi mới CT&SGK giáo dục phổ thông sau 2015 nêu rõ, năng lực “là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, … nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định…” [8, Tr. Tổng hợp các quan điểm về năng lực cho thấy, các nhà nghiên cứu có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đều đi đến điểm thống nhất chung về năng lực là: khả năng thực hiện, biết làm (chứ không chỉ biết và hiểu).
Tuy nhiên, hành động và thực hiện phải gắn với ý thức và thái độ, kiến thức và kỹ năng và các giá trị “được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản” [9]. Phân loại năng lực Rất khó phân loại cụ thể về năng lực và đây là vấn đề tương đối phức tạp bởi “kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại” [70, tr. Tham khảo chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của các nước trên thế giới và Việt Nam, có thể chia năng lực thành hai loại chính: năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực chung là năng lực cơ bản, hình thành và phát triển bởi nhiều môn học, là năng lực xuyên chương trình, năng lực chính (một số nước châu Âu sử dụng), năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, kĩ năng chính, kĩ năng cốt lõi, năng lực cơ sở, khả năng/phẩm chất chính, kĩ năng chuyển giao được… Theo quan niệm chung của giới nghiên cứu châu Âu, mỗi năng lực chung cần “a, Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b, Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c, Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người” [70, tr. Để xác định năng lực chung cho CT giáo dục một quốc gia, cần dựa vào các yếu tố như: yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn cụ thể về nguồn nhân lực và đào tạo một hệ thống công dân đáp ứng được những thách thức trước mắt; thực trạng năng lực của HS phổ thông; xu thế quốc tế về phát triển năng lực cho HS trong nhà trường phổ thông nhằm đáp ứng thị trường lao động. Năng lực cụ thể, chuyên biệt “là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó; vì thế chương trình Québéc gọi là năng lực môn học cụ thể để phân biệt với năng lực xuyên chương trình – năng lực chung” [70, tr. Để phân biệt năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt, có thể lấy ví dụ về sáng tạo và đọc diễn cảm, trong đó sáng tạo là năng lực chung, hình thành bởi tất cả các môn học; còn đọc diễn cảm là năng lực riêng, chỉ có ở môn tiếng Việt và Ngữ văn.
Năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt có mối liên hệ mật thiết với nhau, trong đó năng lực chung được chú ý trong đổi mới CT dạy học, được chú ý trong tất cả các môn học và các lĩnh vực học tập. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 1. Năng lực Ngữ văn Môn Ngữ văn đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và PTNL HS. Đó là một trong những lý do cần thiết phải xây dựng CT dạy học Ngữ văn theo định hướng PTNL.
Vai trò của môn Ngữ văn trong sự hình thành và phát triển năng lực HS được thể hiện qua bảng dưới đây: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.