Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. - Chương 2: Đề xuất các biện pháp dạy học cụm bài Các thao tác lập luận cho học sinh lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ. - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Lập luận và các thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn lớp 11 1. Lập luận Theo Từ điển Tiếng Việt [46, tr.580]: “Lập luận là trình bày lí lẽ một cách có hệ thống, có lô gic nhằm chứng minh cho kết luận về một vấn đề”. Lập luận là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người đọc (người nghe) đến một kết luận nào đó mà người nói (người viết) muốn đạt tới. Cụ thể hơn lập luận là trình bày hệ thống lí lẽ và luận chứng một cách chặt chẽ, rành mạch theo một trật tự lô gic nhằm khẳng định hoặc bác bỏ, làm sáng tỏ vấn đề mà người viết cho là đúng đắn.
Nói cách khác, lập luận là sự triển khai các luận cứ và luận chứng nhằm làm rõ luận đề theo một quan điểm để người đọc tin ở kết luận của người viết. Lập luận là sản phẩm của tư duy lô gic, do vậy lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí và thuyết phục. Lập luận trong văn nghị luận phải đầy đủ ba phần: luận đề, luận điểm, luận cứ. + Luận đề: là vấn đề trọng tâm cần bàn bạc, làm sáng tỏ của bài viết.
+ Luận điểm: là các ý lớn nhằm triển khai sáng tỏ cho luận đề. + Luận cứ: gồm các lí lẽ và dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ cho luận điểm. Các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận a) Thao tác lập luận Thao tác được dùng để chỉ việc thực hiện những động tác theo trình tự và yêu cầu kỹ thuật nhất định. Thao tác lập luận là người viết sử dụng ngôn ngữ để nêu sự thực, trình bày lí lẽ và dẫn chứng một cách lô gic theo một trình tự hợp lí nhằm khẳng định hoặc bênh vực một ý kiến, làm sáng tỏ một vấn đề.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong chương trình SGK Ngữ văn ở trường phổ thông, các thao tác thường được sử dụng trong lập luận: chứng minh, giải thích, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận,…Trong một bài văn nghị luận, thông thường người viết phải vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận mới tạo lập được văn bản nghị luận hay. b) Các thao tác lập luận trong SGK Ngữ văn lớp 11 ( ban cơ bản) - Thao tác lập luận phân tích. - Thao tác lập luận so sánh. - Thao tác lập luận bác bỏ.
- Thao tác lập luận bình luận. * Thao tác lập luận phân tích Phân tích là thao tác được vận dụng thường xuyên trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Để nhận thức thế giới khách quan, con người cần phân tích để đi sâu tìm hiểu, khám quá và nhận biết bản chất của các hiện tượng. Phân tích là một thao tác tư duy luôn được sử dụng trong quá trình nhận thức đó.
Bản chất của nghị luận là nhằm khám quá và nhận thức các vấn đề đặt ra trong cuộc sống nói chung và văn học nói riêng. Rõ ràng, thao tác phân tích là một thao tác quan trọng. Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng. Thao tác lập luận phân tích có đối tượng và phạm vi rất rộng lớn, từ một hiện tượng văn học (tác phẩm, tác giả, xu hướng, giai đoạn văn học…) đến các vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội như: tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống… dĩ nhiên khi phân tích cần phải phân chia đối tượng (vấn đề cần nghị luận) ra nhiều mặt, nhiều phương diện khác nhau (phân tích các yếu tố của bản thân đối tượng) theo một tiêu chí nào đó.
Ví dụ, khi phân tích một trào lưu văn học, ta có thể chia thành các giai đoạn phát triển, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, chủ đề, thể loại, tác giả, độc giả… 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng. Riêng đối với tác phẩm văn học, phân tích là để khám phá ba giá trị của văn học: nhận thức, tư tưởng và thẩm mĩ. Yêu cầu phân tích: khi chia tách đối tượng thành các yếu tố, bộ phận phải theo những tiêu chí, quan hệ nhất định, cần đi sâu vào từng mặt, từng bộ phận, song cũng đặc biệt lưu ý đến mối quan hệ giữa các mặt, các bộ phận trong tính chỉnh thể, thống nhất. Việc phân tích phải dựa trên nhiều mối quan hệ khác, đặc biệt là phân tích mối quan hệ của bản thân đối tượng với những yếu tố nằm ngoài đối tượng nhưng có sự liên quan và ảnh hưởng trực tiếp tới đối tượng để nhận thức đối tượng thêm sâu sắc, biện chứng hơn.
Cũng cần chú ý là phân tích cần phải đi liền với tổng hợp và khái quát để đảm bảo nhận thức toàn bộ đối tượng. Phân tích cũng không bao giờ tách biệt khỏi các thao tác khác như giải thích, chứng minh, bác bỏ… Ví dụ: Làm nên sự nghiệp ấy đương nhiên là những con người Việt Nam với những điểm mạnh và điểm yếu của nó. Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày nay mà sự sáng tạo là yêu cầu hàng đầu.
Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học thời thượng, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt. Không nhanh chóng lấp đầy những lỗ hổng này, thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đầy những tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng. (Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những điều trình bày trên có thể nhận thức thoả đáng hơn về kiểu bài phân tích lâu nay trong các sách dạy làm văn nghị luận.
SGK Làm văn cải cách giáo dục xem phân tích là một kiểu bài: phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự, phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình, phân tích một đoạn văn, đoạn thơ cho tới phân tích một tác phẩm. Quan niệm như trên dẫn đến cách hiểu hạn hẹp về cách vận thao tác phân tích của HS trong quá trình làm văn nghị luận. Thao tác lập luận này luôn có mặt trong quá trình viết mọi bài văn nghị luận và luôn luôn kết hợp chặt chẽ với các thao tác khác. * Thao tác lập luận so sánh Cũng như thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận so sánh là một thao tác tư duy thường được sử dụng trong quá trình viết văn nghị luận nói chung.
Và bởi vậy, cũng không nên quá quan niệm có một kiểu bài văn nghị luận so sánh. So sánh là thao tác đối chiếu một đối tượng với các đối tượng khác để tìm ra những điểm khác nhau cũng như những điểm tương đồng giữa chúng với nhau, trên cơ sở đó nhận thức sâu sắc và làm nổi bật đối tượng cần nghị luận. Cũng hết sức lưu ý không vì mục đích ca ngợi (hay phê phán) đối tượng mà quá hạ thấp (hay quá đề cao) các đối tượng dùng để so sánh. Thái độ cực đoan, thiếu trung thực và thiếu khoa học đó chỉ làm cho người đọc nhận thức sai đối tượng và tai hại hơn là thiếu niềm tin vào lập luận của người viết.
Nói đến so sánh với tư cách là một thao tác lập luận cũng cần phân biệt với biện pháp so sánh tu từ. Cả hai cách so sánh này đều có mục đích nhận thức nhưng so sánh tu từ thiên về mặt diễn đạt, chủ yếu tạo tính hình tượng, tính sinh động, cụ thể cho lời văn, ít có giá trị về mặt lập luận. Thao tác lập luận so sánh cũng luôn luôn đi cùng với các thao tác phân tích, bác bỏ, bình luận để tạo nên lập luận chặt chẽ và giàu tính thuyết phục. - Phân loại: Hai đối tượng cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tác dụng: So sánh giúp nhận thức nhanh chóng đặc điểm nổi bật của đối tượng và cùng lúc hiểu biết được hai hay nhiều đối tượng. - Yêu cầu: Khi so sánh, phải đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa chúng, đồng thời phải nêu rõ ý kiến, quan điểm của người nói (người viết). Ví dụ: Người xưa vẫn coi “cưỡi con gió mạnh, đạp đầu sóng dữ” là biểu trưng cho một lí tưởng sống anh hùng. Thì ông lái sông Đà này, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, cũng chính là con người cưỡi gió đạp sóng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đấy còn gì! Nhà văn đã dụng tâm tả cuộc chiến giữa ông lái đò với dòng sông theo hướng: Thoạt đầu tưởng như hai bên rất không cân sức… Thế nhưng ba lớp trùng vây thạch trận đầy cửa tử cửa sinh đã không ăn chết được một con thuyền đơn độc hết chỗ lùi.
Các dũng tướng phá trận ngày xưa, nếu vào đúng cửa sinh và đánh thốc ra đúng cửa sinh là đối phương tan tành thế trận. Ông đò của Nguyễn Tuân cũng thế. Nhà văn như muốn, qua trường hợp ông đò, cùng mỗi chúng ta nghiền ngẫm điều triết lí: giữa cái thế giới dữ và nham hiểm, cái thế giới đầy sức mạnh man dại và lập lờ cạm bẫy, con người vẫn đủ khả năng tìm thấy luồng sinh. Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu.
Ông đâu có cánh tay Héc-quyn nào để sánh được với sức lực của Thủy Tinh. Nhưng ông đã “nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”.