CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Thể loại văn học và đặc trưng của tác phẩm tự sự 1. Quan niệm chung về thể loại văn học Theo GS Trần Đình Sử trong Lí luận văn học tập 2 (NXB Đại học Sư phạm 2008) “ Thể loại văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định của một loại hình thức nhất định tạo cho tác phẩm” [34, tr 221]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học NXB Giáo dục: “ Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử văn học thể hiện ở sự khác nhau về cách thể hiện chủ đề tác phẩm, về đặc điểm của các hiện tượng đời sống được miêu tả về tính chất của mối 3quan hệ của nhà văn với các hiện tượng đời sống ấy.
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng các phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau thể hiện những quan niệm thẩm mĩ khác nhau đối với hiện thực, có những cách xây dựng hình tượng khác nhau. Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn. Người ta có thể tập hợp thành từng nhóm tác phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy. Đó là cơ sở khách quan của sự tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xậy dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học.
Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để giữ gìn, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó thể loại văn học luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể. Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại.
Bất kì tác phẩm văn học nào cũng thuộc một loại nhất định, và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó. Loại và thể mang tính chất biện chứng của cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Về phương diện cấu trúc nội dung của tác phẩm văn học thì loại là chất mà thể là hình thức biểu hiện cụ thể của loại, không có thể thì loại không không biểu hiện ra được. Nhưng khi đã biểu hiện ra thành thể thì nó lại có tính độc lập tương đối.
Cuốn Lí luận văn học của GS Hà Minh Đức, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long khẳng định rằng: Tính chất tương đối của ranh giới thể loại còn biểu hiện ở sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trong quá trình phát triển. Có khi các tác phẩm khác nhau thuộc một thể tài lại biểu hiện tính chất của những loại khác nhau. Ví dụ thể thơ thì có thơ tự sự, thơ trữ tình, kịch thơ…Thực tế các tác phẩm văn chương cho thấy rằng khó có thể xác định máy móc tác phẩm này là thể loại tự sự, trữ tình hay kịch. Trong tác phẩm trữ tình có yếu tố tự sự và ngược lại.
Một tác phẩm văn chương luôn chịu sự ràng buộc từ hai phía loại và thể. Loại và thể phụ thuộc chặt chẽ với nhau nhưng vẫn có tính độc lập tương đối. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại. Mỗi loại trên gồm một số thể nhỏ: * Loại tự sự: phản ánh đời sống trong tính khách quan (tương đối) của nó – qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó.
Loại tự sự bao gồm: Tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười.Tự sự trung đại và hiện đại: truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí. * Loại trữ tình: biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người. Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ… được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân của mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loại trữ tình gồm: Trữ tình dân gian: tục ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đối. Trữ tình trung đại và hiện đại: thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do… * Loại kịch gồm: Kịch bản văn học: chỉ là một yếu tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch. Nghệ thuật sân khấu: mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễn viên, đạo diễn, hoá trang, ánh sáng, âm thanh… Bên cạnh việc nắm vững đặc điểm của mỗi loại, chúng ta có thể dựa vào thi pháp tư tưởng, phong cách, cái “tạng” riêng của từng nhà văn để khám phá ra “chất của loại” trong tác phẩm cụ thể. Ví dụ: Nam Cao là một nhà văn hiện thực, ngòi bút của ông thường thể hiện những nỗi đau sâu kín trong tâm hồn con người, để rồi từ đấy tiếng tơ đàn thánh thiện của tâm linh được bật lên tràn đầy vẻ nhân văn.
Tác phẩm của Nam Cao thường thể hiện nỗi đau tinh thần giằng xé trong tâm hồn con người, con người trong tình huống bị hạ nhục; cái nhục bị đẩy lên tận cùng là lúc nhân tính phát sáng. Tác phẩm của Nam Cao thường có nhiều tầng bi kịch. Nếu không xác định được tầng tư tưởng của nhà văn, ta chỉ mới dạy học ở tầng nghĩa cụ thể nào đó. Ở trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố thì lại mang một phong cách riêng, các tác phẩm của ông thường vang lên tiếng kêu cứu của những người bần cố nông nhất là phụ nữ và trẻ em.
Trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan là những tấn bi hài kịch của những kiếp người. Thạch Lam cũng vậy. Cái riêng của ông là thể hiện vẻ đẹp tình người kín đáo, đằm thắm, khẽ khàng, sâu xa lắng đọng. Chất “thơ văn xuôi”, “chất trữ tình hiện thực” tràn đầy trong tác phẩm của ông.
Chúng ta phải dạy học tác phẩm của Thạch Lam theo hướng với tác phẩm trữ tình cho dù nó là truyện. Xuân Diệu và Tản Đà dù có viết truyện ngắn thì vẫn là truyện trữ tình của nhà thơ. Nguyên Hồng có làm thơ thì cũng là thơ của các tác giả văn xuôi. Qua “tạng nghệ sĩ” có thể khám phá ra “chất của loại” trong tác phẩm là vì vậy.
Ngoài ra, chúng ta có thể nhận biết loại thể qua những dấu hiệu của tổ chức cấu trúc, cách thể hiện của tác phẩm. Loại tự sự thường có tiết tấu đầu - 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữa - cuối (trừ thể loại thần thoại), người kể chuyện ở dạng ngôi thứ nhất tham dự, không tham dự, thông suốt, thông suốt có lựa chọn, khách quan… trước mọi sự vật, sự việc trong truyện… Loại trữ tình thường dễ nhận biết qua trạng thái tình cảm, giọng nói của nhân vật trữ tình, giọng điệu của hệ thống thanh âm, giọng thơ, các hình thái tu từ… Loại kịch thường biểu hiện qua những mâu thuẫn với những diễn biến phức tạp… Tóm lại việc xác định thể loại văn học chỉ có tính chất tương đối. Song vẫn cần thống nhất rằng thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể tác phẩm. Thể loại văn học là sự thống nhất giữa loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống.
Đặc trưng của loại hình tác phẩm tự sự Loại hình tự sự khác hẳn loại trữ tình và kịch. Nếu như ở thể loại trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người; tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Ở đó tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố sự kiện nào; thì ở kịch lại khác. Kịch bắt đầu từ xung đột, đó là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn mỗi hồi kịch.
Còn loại tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó. Tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Nó có thể kể về khoảnh khắc hay những sự kiện xảy ra hàng trăm năm. Tầm bao quát cuộc sống trong tác phẩm rộng lớn.
Nhân vật tự sự được khắc hoạ đầy đặn nhiều mặt: bên trong, bên ngoài, cả điều nói ra và không nói ra, cả ý nghĩ, cả cái nhìn, cả cảm xúc, tình cảm, ý thức và vô thức, cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người trần thuật của nó. Hình tượng người trần thuật, kể chuyện rất đa dạng: khách quan, ngôi thứ nhất, thông suốt, thông suốt có lựa chọn… và cũng có khi người kể chuyện như một nhân vật… khi thâm nhập, khi gián cách, khi 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứng ngoài, khi hoà nhập… ít nhiều ta vẫn nhận ra thái độ của họ. Lời văn của loại tự sự có thể là văn vần hay văn xuôi nhưng luôn hướng người đọc ra thế giới đối tượng, khác hẳn lời trữ tình hướng sự chú ý tới cảm xúc, ý định chủ quan của người nói, khác hẳn lời thoại trong kịch.
Lời nói của nhân vật tự sự là một thành phần, một yếu tố của văn tự sự. Nó xuất hiện gắn liền với sự miêu tả. Trong tự sự, không có chỗ cho những lời thổ lộ trữ tình độc lập, hay tự biểu hiện một cách trực tiếp, cái đó chủ yếu dành cho nhân vật. Vì vậy mà trong tự sự vẫn chấp nhận ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, nửa trực tiếp, nửa gián tiếp.
Văn tự sự có chức năng tái hiện, phân tích sự vật qua miêu tả và thuyết minh. Tái hiện toàn bộ thế giới bao gồm bên ngoài và bên trong của con người nhưng đều xem chúng như là những sự kiện khác nhau về đời sống con người, xã hội.