Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về “Dạy học tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại ở trƣờng THCS cho học sinh các tỉnh miền núi phía Bắc theo tiếp cận tích hợp”. Chương 2: Tổ chức các hoạt động “Dạy học tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại ở trƣờng THCS cho học sinh các tỉnh miền núi phía Bắc theo tiếp cận tích hợp”. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Ở TRƢỜNG THCS CHO HỌC SINH CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC THEO TIẾP CẬN TÍCH HỢP 1.
Khái niệm “Tích hợp” Tích hợp là một quan điểm lí luận dạy học, tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập… Trong chƣơng trình và SGK chỉ là định hƣớng, vấn đề đặt ra là GV phải xác định đƣợc hƣớng tích hợp cho từng bài, từng phần. Cụ thể, tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ để kiểm tra việc học ở nhà cũng nhƣ mức độ hiểu bài của học sinh, hình thức trả lời câu hỏi phát vấn trên lớp, thực hành làm bài tập củng cố cuối giờ học. Là hoạt động có tính chất kết nối giữa bài đã học và bài đang học, dẫn dắt giới thiệu bài mới. Hình thức hỏi - đáp đóng vai trò hết sức quan trọng, thể hiện tính tích cực, chủ động của ngƣời học cũng nhƣ vai trò chủ động của GV.
Dạy tích hợp thông qua phƣơng tiện bảng phụ, tranh ảnh minh họa trong SGK Ngữ văn 6, 7, 8, 9 sử dụng kênh hình, bảng biểu, mô hình trong SGK, mẫu vật thực tế để tích hợp, giúp các em cảm thụ văn học tốt hơn. Để tổ chức đƣợc khoa học hình thức này, ngƣời dạy phải có sự chuẩn bị công phu, đầu tƣ trí tuệ, công sức và điều kiện cơ sở vật chất của từng trƣờng. Giúp HS nắm chắc kiến thức tích hợp trong việc rèn luyện kĩ năng (đọc, viết, nói và nghe), gắn với đời sống xã hội, văn học dân gian, văn trung đại, hiện đại… Do đó, theo từ điển tiếng Việt dạy học tích hợp là “tích hợp được giải thích là việc dồn hợp chung lại” [39]. Còn nhà nghiên cứu Đỗ Chu Ngọc đƣa ra một cách rõ ràng hơn “tích hợp” là sự phối kết các tri thức thuộc một nhóm môn học có sự tương đồng vào một lĩnh vực chung.
Trong lĩnh vực giáo dục, “Tích hợp được định nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị, thậm chí là trong một tiết học hoặc một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm mục đích tăng cường hiệu quả giáo dục đồng thời cũng nâng cao chất lượng và tiết kiệm thời gian học tập cho người học”. Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập, thể hiện tính liên kết tạo nên một thực thể toàn vẹn, trong đó không cần phân chia giữa các thành phần 11 kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội dung các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt của các thành phần bên cạnh nhau. Các tri thức, kĩ năng có sự liên kết với nhau trong giải quyết một vấn đề, tình huống.
Giáo viên có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau, hoặc các kiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh những chủ đề giáo dục lồng ghép thông qua các hình thức truyền đạt bằng trình chiếu, giảng dạy, thảo luận, dạy học theo dự án. Giáo dục tích hợp mong muốn mang đến cho ngƣời học: Học để biết, hiểu, làm, chung sống và học để làm ngƣời. Khái niệm “Dạy học tích hợp” Theo từ điển “Thuật ngữ Văn học” (1992) “Dạy học tích hợp” là hành động liên kết các đối tƣợng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học [37]. Nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ngƣời học biết cách vận dụng kiến thức học đƣợc trong nhà trƣờng vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ. Từ đó, trở thành một ngƣời công dân có trách nhiệm, ngƣời lao động có năng lực, phát triển phẩm chất cá nhân. Việc tổ chức nội dung dạy học của GV sao cho HS có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển đƣợc những năng lực cần thiết. Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trƣờng phải đƣợc gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt.
Điều đó, đƣợc thể hiện ở cả nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp dạy học, phƣơng pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Tích hợp các môn học nhằm gắn kết kiến thức liên ngành với nhau. Trong đó, tích hợp dọc dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thu đƣợc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau. Tích hợp ngang có sự liên kết các đối tƣợng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Dạy học tích hợp đƣa những vấn đề nội dung của nhiều môn học, vào một giáo trình duy nhất nhƣ tích hợp chƣơng trình tiến hành liên kết hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung gần gũi nhau. Tích hợp kiến thức là liên kết, nối liền các tri thức khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất. Hƣớng HS đến tích hợp kĩ năng, rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năng thuộc cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể. 12 Dạy học tích hợp ở trƣờng THCS hƣớng các em phát triển năng lực toàn diện, phát triển khả năng huy động, tổng hợp kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
HS rèn luyện các kĩ năng cần thiết và phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Tạo dựng mối quan hệ giữa các môn học với nhau và áp dụng với kiến thức thực tiễn, cho phép các em học sinh lĩnh hội càng nhiều kiến thức rộng lớn của nhân loại. Hạn chế việc trùng lặp nội dung thuộc các môn học khác nhau, GV vận dụng linh hoạt với mọi đối tƣợng học sinh về kiến thức, trình độ hiểu biết, khả năng tiếp thu, đảm bảo nắm chắc kiến thức trọng tâm. Giảm tải chƣơng trình môn học, nội dung đƣợc chọn lọc, rút ngắn quá trình, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trƣờng trung học.
Giáo dục toàn diện dựa trên việc đóng góp của nhiều môn học cũng nhƣ bằng việc thực hiện đầy đủ mục tiêu và nhiệm vụ của từng môn học. Tích hợp môn học có những mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, thƣờng có những hình thức sau: tích hợp trong nội bộ môn học các nội dung của các môn học, tức nhằm duy trì các môn học riêng rẽ. Tích hợp đa môn có thể nghiên cứu một đề tài ở nhiều môn học khác nhau. Tích hợp liên môn chủ đề đƣợc bố trí xung quanh khái niệm và các phần nổi trội có mặt ở mỗi môn.
Quá trình pha trộn các nội dung học tập dựa trên việc tìm đƣợc các kiến thức, kĩ năng và thái độ chung cho các môn học. Cũng giống nhƣ phƣơng pháp chia sẻ, tích hợp là một kết quả của sự thay đổi liên quan đến ý tƣởng chung, tách ra khỏi nội dung môn học. Phƣơng pháp tích hợp là các giáo viên làm việc cùng nhau để tìm đƣợc các chủ đề hoặc chủ điểm chung và phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống. Tích hợp xuyên môn phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn, có thể áp dụng ở mọi nơi.
Tích hợp đƣợc diễn ra bên trong ngƣời học, còn sự can thiệp bên ngoài ít hoặc không có. Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thƣờng đạt đƣợc nhiều mục tiêu khác nhau. Tích hợp trong môn Ngữ văn không chỉ là phối hợp các kiến thức và kĩ năng của tiếng Việt và văn học mà còn là sự tích hợp liên ngành để hình thành một vốn văn hóa cho HS trong việc đọc - hiểu tác phẩm văn học và tạo lập những văn bản theo các phƣơng thức biểu đạt khác nhau. Học Ngữ văn nhƣng HS có đƣợc kiến thức và kĩ năng thực hành toàn diện, tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, vốn sống và kinh nghiệm của bản thân.
13 Bản chất của dạy học tích hợp đƣợc hiểu là định hƣớng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hƣớng dẫn sao cho học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng đã có thuộc các lĩnh vực để giải quyết đƣợc nhiệm vụ học tập và qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng mới. Ngƣời học làm trung tâm, chủ thể của hoạt động học, tích cực tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, ngƣời học không chỉ đƣợc đặt trƣớc những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, tìm ra cái chƣa biết, cái cần khám phá học để hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân. Từ đó, phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm, với lớp. Sự làm việc theo nhóm này sẽ đƣa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia vào gỉai quyết vấn đề.
Sự hợp tác giữa ngƣời học với ngƣời học là hết sức quan trọng, điều quan trọng nhất là cần phải phát huy tính tự chủ, chủ động nổ lực tìm kiếm kiến thức của ngƣời học. GV tổ chức và hƣớng dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho ngƣời học tự tìm kiếm kiến thức và phƣơng thức tìm kiếm kiến thức bằng hành động của chính mình. Thầy côdạy kiến thức mà ngƣời học cần, đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở tin cậy và hợp tác giữa GV và HS. Trong quá trình tìm kiếm kiến thức của ngƣời học có thể chƣa chính xác, chƣa khoa học, ngƣời học có thể căn cứ vào kết luận của nguời dạy để tự kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về cách học của mình.
Nhận ra những sai sót và biết cách sửa sai đó chính là biết cách học.