CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHÓM HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA HỌC SINH 1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh 1. Khái niệm NL Đã có nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, tâm lí học, giáo dục học…đưa ra những định hướng khác nhau về NL.
Tại hội nghị chuyên đề về NL cơ bản do Hội đồng châu Âu tổ chức, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về NL, F.E Weinert kết luận: “Xuyên suốt các môn học NL thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”.[14] Theo quan điểm của những nhà tâm lí học: “NL là tập hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao”.[13] Khái niệm “NL” tiếp tục được bổ sung và ngày càng được hoàn thiện, có thể thống kê thêm một số định nghĩa khác nữa về NL. Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “NL là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công các hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể.[4] Còn theo tác giả Trần Khánh Đức “NL là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (Tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.[17] Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018) của Bộ GD-ĐT thì “NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.[1] Có thể nói rằng: “NL” là một khái niệm được hiểu theo những cách khác nhau theo những GĐ khác nhau và theo các lĩnh vực khác nhau của các tác giả. Trên cơ sở phân tích kế thừa các quan điểm của các nhà khoa học về NL, có thể hiểu “NL là kết quả của sự tổng quan hài hòa của kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và các thuộc tính cá nhân khác 4 như hứng thú, niềm tin, ý chí nhờ nó thực hiện thành công các hoạt động, nhiệm vụ trong hoàn cảnh thực tế nhất định”.
Tóm lại, dù cách phát biểu về NL có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: Nói đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là biết và làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Đặc điểm năng lực NL con người không phải sinh ra đã có, mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình con người giao tiếp, hoạt động. Kết quả, sản phẩm trong công việc thường là thước đo đánh giá NL của cá nhân làm ra nó. Theo tác giả Đinh Quang Báo, tuy NL được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng đều có đặc điểm chung, cơ bản đó là:[7] - Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện.
Cụ thể như: NL học tập, NL tư duy, NL tự quản lí bản thân…Vậy không tồn tại NL chung chung. - Là yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể, chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy NL vừa là mục tiêu vừa là kết quả của quá trình hoạt động, là điều kiện của hoạt động nhưng cũng là mục tiêu chính của hoạt động đó. - Có sự tác động của một cá nhân cụ thể đến một đối tượng cụ thể để có một sản phẩm nhất định, điều này có thể phân biệt NL của người này với người khác.
- Bản chất của NL là khả năng kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện của NL là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc. Với những đặc điểm trên có tác dụng chỉ đạo quá trình DH, giáo dục là muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá NL ở cá nhân tham gia vào hoạt động là phải tạo ra sản phẩm.Cấu trúc năng lực Có nhiều cách tiếp cận cấu trúc NL, tuy nhiên theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của bốn NL thành phần sau:[7] 5 Hình 1. Sơ đồ cấu trúc NL NL chuyên môn (Professional competency): là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn.
NL phương pháp (Methodical competency): được hiểu là một trong những nhiệm vụ cụ thể nào đó cá nhân cần phải biết xây dựng các kế hoạch và đưa ra được các hướng giải quyết nhiệm vụ đó sao cho đúng với mục đích đã đề ra. NL xã hội (Social competency): là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với các thành viên khác. NL cá thể (Individual competency): là những khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi. Mô hình cấu trúc NL cho thấy giáo dục phát triển NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn, mà còn phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL các thể.
Những NL này không thể tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ để tạo ra NL hành động – đó là cốt lõi của con đường phát triển NL. Phân loại năng lực Phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Theo Chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam năm 2018 có 2 loại NL, đó là NL cốt lõi và năng khiếu.
NL cốt lõi là NL cơ bản thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. Cũng theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 NL cốt lõi bao gồm NL chung và NL đặc thù. - NL chung là những NL được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và 6 hoạt động giáo dục như: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và HT, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. - NL đặc thù là NL tự hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất.
Năng khiếu là những NL đặc biệt về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống. nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người. Năng lực hợp tác 1. Khái niệm năng lực hợp tác HT là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người; nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy “HT mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội”.
Theo từ điển Tiếng Việt (1997): HT là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung.[8] Theo Đinh Quang Báo: NL luôn gắn liền với một hoạt động cụ thể nào đó, trong đó NL gắn liền với những hoạt động HT trong nhóm thì được gọi là NLHT.[6] Tác giả Lê Thị Minh Hoa lại cho rằng: “NLHT là một dạng NL, cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự HT, kĩ năng và thái độ, giá trị động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động HT trong một bối cảnh cụ thể. Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kĩ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động HT”.[9] Như vậy, có thể hiểu NLHT là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống, trong đó mỗi cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau nhằm huy động tổng hợp các kiến thức, NL, thái độ, động cơ của nhiều người để có thể hoàn thành công việc một cách hiệu quả. Đây là một NL rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình hội nhập. Trong môn KHTN, NLHT thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập, qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học.
Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, HS thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình. Các yếu tố này rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học trong bối cảnh mới. Biểu hiện năng lực hợp tác Dựa theo yêu cầu cần đạt về NL của chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo 7 dục và Đào tạo năm 2018. Biểu hiện NLHT của HS THCS được thể hiện như sau: Bảng 1.
Biểu hiện của NLHT[2] 1. Xác định mục đích và phương Chủ động đề xuất mục đích HT khi được giao thức HT nhiệm vụ; xác định được những công việc có thể hoàn thành tốt nhất bằng HT theo nhóm. Xác định trách nhiệm và hoạt Hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm; đánh giá được khả động của bản thân năng của mình và tự nhận công việc phù hợp với bản thân. Xác định nhu cầu và khả năng Đánh giá được nguyện vọng, khả năng của từng của người HT thành viên trong nhóm để đề xuất phương án tổ chức hoạt động HT.