Dạy Học Môn Kỹ Thuật May 2 Theo Tiếp Cận Mục Tiêu

Khám phá phương pháp dạy học môn kỹ thuật may 2 cho sinh viên cao đẳng theo tiếp cận mục tiêu, nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.

Chuyên ngành

Công nghệ may

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
227
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU

1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.3. LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU

1.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DẠY HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ MAY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX TP. HỒ CHÍ MINH

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT MAY 2 THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU

2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG NGÀNH MAY CÔNG NGHIỆP

2.2. GIỚI THIỆU MÔN HỌC KỸ THUẬT MAY 2 HIỆN HÀNH

2.3. TRIỂN KHAI DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT MAY 2 THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ

3.1. MỤC ĐÍCH VÀ NỘI DUNG THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ

3.2. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ

3.3. XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học kỹ thuật may 2 theo tiếp cận mục tiêu

Dạy học kỹ thuật may 2 theo tiếp cận mục tiêu là một phương pháp giáo dục hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên cao đẳng. Phương pháp này không chỉ tập trung vào nội dung kiến thức mà còn chú trọng đến việc phát triển năng lực thực hành và kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên. Việc áp dụng tiếp cận mục tiêu trong dạy học giúp sinh viên có thể tiếp cận thực tế sản xuất, từ đó nâng cao khả năng làm việc sau khi tốt nghiệp.

1.1. Khái niệm về dạy học kỹ thuật may 2

Dạy học kỹ thuật may 2 là môn học chuyên ngành, trang bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện các công đoạn trong quy trình sản xuất may. Môn học này không chỉ dạy lý thuyết mà còn kết hợp thực hành, giúp sinh viên nắm vững quy trình sản xuất.

1.2. Lợi ích của tiếp cận mục tiêu trong dạy học

Tiếp cận mục tiêu trong dạy học giúp sinh viên phát triển toàn diện các kỹ năng cần thiết cho nghề nghiệp. Phương pháp này cũng tạo điều kiện cho sinh viên tự đánh giá năng lực của bản thân, từ đó có kế hoạch học tập phù hợp.

II. Vấn đề và thách thức trong dạy học kỹ thuật may 2

Dạy học kỹ thuật may 2 hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, từ việc cập nhật công nghệ đến việc đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Nhiều trường cao đẳng vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, không phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Điều này dẫn đến việc sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.

2.1. Thiếu cập nhật công nghệ trong giảng dạy

Nhiều chương trình đào tạo chưa kịp thời cập nhật công nghệ mới, dẫn đến việc sinh viên không được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thực tế.

2.2. Khó khăn trong việc kết nối với doanh nghiệp

Việc thiếu sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp khiến cho chương trình đào tạo không phản ánh đúng nhu cầu thực tế của thị trường lao động, làm giảm khả năng tuyển dụng của sinh viên.

III. Phương pháp dạy học kỹ thuật may 2 theo tiếp cận mục tiêu

Để nâng cao chất lượng dạy học kỹ thuật may 2, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, phù hợp với tiếp cận mục tiêu. Các phương pháp này bao gồm việc xây dựng mục tiêu rõ ràng, thiết kế bài giảng linh hoạt và tổ chức các hoạt động thực hành phong phú.

3.1. Xây dựng mục tiêu dạy học rõ ràng

Mục tiêu dạy học cần được xác định cụ thể, rõ ràng và phù hợp với nhu cầu thực tế của ngành may. Điều này giúp sinh viên hiểu rõ những gì họ cần đạt được trong quá trình học tập.

3.2. Thiết kế bài giảng linh hoạt

Bài giảng cần được thiết kế linh hoạt, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và áp dụng kiến thức vào thực tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc áp dụng tiếp cận mục tiêu trong dạy học kỹ thuật may 2 đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Sinh viên sau khi tốt nghiệp có khả năng làm việc tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên được đào tạo theo phương pháp này có tỷ lệ việc làm cao hơn so với sinh viên học theo phương pháp truyền thống.

4.1. Kết quả thực nghiệm dạy học

Kết quả thực nghiệm cho thấy sinh viên tham gia vào chương trình dạy học theo tiếp cận mục tiêu có sự tiến bộ rõ rệt trong kỹ năng nghề nghiệp và khả năng làm việc nhóm.

4.2. Phản hồi từ doanh nghiệp

Doanh nghiệp đánh giá cao sinh viên tốt nghiệp từ chương trình này, cho rằng họ có khả năng làm việc độc lập và sáng tạo trong công việc.

V. Kết luận và tương lai của dạy học kỹ thuật may 2

Dạy học kỹ thuật may 2 theo tiếp cận mục tiêu là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Việc áp dụng phương pháp này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn giúp sinh viên tự tin hơn khi bước vào thị trường lao động. Tương lai của dạy học kỹ thuật may 2 sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành công nghiệp may.

5.1. Định hướng phát triển chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu của thị trường lao động.

5.2. Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp

Cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa nhà trường và doanh nghiệp để đảm bảo chương trình đào tạo đáp ứng đúng nhu cầu thực tế.

14/07/2025
Dạy học môn kỹ thuật may 2 cho sinh viên cao đẳng theo tiếp cận mục tiêu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ngày nay, khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển rất nhanh chóng, công nghệ SX thay đổi cũng nhanh chóng. Do đó việc ĐT nguồn nhân lực đáp ứng với sự thay đổi đó phải có cách nhìn, cách nghĩ, cách tiếp cận mới. Các nghiên cứu ĐT nguồn nhân lực mới đều hướng tới đáp ứng với thực tế sản xuất và đời sống.

Đây chính là MT chung của lĩnh vực ĐT nghề nghiệp. Các nghiên cứu đều hướng vào ĐT theo tiếp cận năng lực thực hiện (NLTH), ĐT theo tiếp cận đầu ra, ĐT theo tiếp cận kinh tế thị trường, ĐT cái mà xã hội cần… Đây chính là MT hướng tới của ĐT. Nhưng xác định MTĐT sao cho phù hợp với nhu cầu xã hội là công việc không đơn giản. Nếu MTĐT không phù hợp với nhu cầu xã hội thì dù cho nhà trường có cố gắng ĐT cho đạt MT đã đề ra, nhưng học sinh sinh viên (HSSV) sau khi tốt nghiệp - sản phẩm của trường - vẫn không được người sử dụng chấp nhận.

Vì vậy, xây dựng MT cần đảm bảo có sự phù hợp tối đa giữa MTĐT của trường (chất lượng bên trong) và nhu cầu xã hội (chất lượng bên ngoài). Tùy theo đặc thù của mỗi quốc gia, việc xác định MTĐT nghề nghiệp có những yêu cầu riêng. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới Tại Mỹ: văn phòng giáo dục người lớn và nghề nghiệp thuộc Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm quản lí và điều phối các chương trình cấp quốc gia liên quan đến giáo dục (GD) người lớn, GD nghề nghiệp và các trường CĐ cộng đồng. Chính quyền các bang chịu trách nhiệm tổ chức và quản lí GD nghề nghiệp.

Mỗi tiểu bang có một ban GD nghề nghiệp, nhưng việc tổ chức và quản lí không giống nhau. Giám đốc phụ trách GD nghề nghiệp của bang này có thể 8 thuộc ngành GD nhưng ở bang khác có thể là người của ban phát triển nguồn nhân lực [59]. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới đã thực hiện ĐT nghề theo mục tiêu NLTH. Khái niệm ĐT theo NLTH xuất hiện ở Mỹ từ những năm 60 của thế kỉ trước.

Đầu những năm 70, ĐT theo mục tiêu NLTH được quan tâm nhiều hơn. Văn phòng GD Mỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm thông qua hiệp hội quốc gia CBEC (National consortium of Competency Based Education Centres) đã đưa ra bảng tiêu chí mô tả và đánh giá chương trình NLTH [69]. Đây chính là mô tả MT và đánh giá theo mục tiêu NLTH. Tại Anh: vào những năm 80 của thế kỉ trước đã công bố một số sách trắng (Bộ Năng lượng và DES, 1984, 1985, 1986) nêu lên những ưu điểm của ĐT theo NLTH trong ĐT nghề như chương trình linh hoạt hơn, hiệu quả ĐT tốt hơn [9], [67].

Shirley Fletcher (1995) với tác phẩm “Kỹ thuật đánh giá theo mục tiêu năng lực” đã đề xuất nguyên tắc và các phương pháp, kĩ thuật đánh giá theo MT năng lực, hướng dẫn việc đánh giá dựa trên công việc cụ thể MT đầu ra của sự DH. Đầu thập niên 1980 đã cho công bố nhiều sách trắng (DOE, 1981, Bộ Năng lượng và DES, 1984,1985,1986), trong đó nêu lên những ưu điểm của ĐT theo MT năng lực trong GD và ĐT nghề như chương trình linh hoạt hơn, hiệu suất ĐT tốt hơn [9], [50]. Tại Australia: cuối những năm 80 của thế kỉ trước đã bắt đầu cải cách ĐT nghề, thiết lập quan điểm ĐT theo NLTH, xây dựng các hội đồng quốc gia đánh giá kết quả ĐT theo NLTH [57]. Cuối những năm 80 của thế kỉ trước là thời kì mà việc ĐT các KN nghề theo NLTH (hiểu là MTĐT kĩ năng nghề theo yêu cầu hoạt động thực tế nghề nghiệp) được nghiên cứu bài bản và được ứng dụng rộng rãi tại Mỹ, Canada, New Jealand, Scotland.

Trong đó phải kể đến các công trình của Burke John 9 W. Các công trình của Finch Curtis. Bland (1982) [68] trình bày quan điểm ĐT mới và phát triển chương trình ĐT nghề theo MT phát triển năng lực kĩ thuật. Các công trình này mô tả một phương thức mới ĐT nghề theo tiếp cận mục tiêu NLTH có nhiều ưu điểm nổi bật, đặc biệt là phù hợp với thực tiễn hoạt động nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu xã hội.

Ngày nay, có nhiều công trình nghiên cứu về ĐT nghề theo mục tiêu đào tạo NLTH – năng lực hành nghề hoặc đặt MT đáp ứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp, yêu cầu của SX, yêu cầu của xã hội. Có thể kể một số công trình như: Tác phẩm Giáo dục và đào tạo theo NLTH (Competency Based Education and Training, CBET) của Finch Crurtis R. ; tác phẩm giới thiệu về mô hình tổ chức, thiết kế và thực hiện theo NLTH (Handbook of competency Mapping) của tập thể tác giả [71]. Tại Cộng hòa liên bang Đức: Mục đích ĐT nghề nghiệp của Đức là thực hiện mô hình ĐT kép để thực hiện mục đích gắn ĐT tại nhà trường và hệ thống sử dụng lao động được ĐT (các nhà máy, xí nghiệp); là sự liên kết giữa nhà trường và thị trường lao động và sự tham gia đáng kể của khu vực tư nhân.

Thời gian ĐT nghề dài hay ngắn phụ thuộc vào kinh nghiệm nghề nghiệp mà người học có từ trước đó, có thể kéo dài một năm (toàn thời gian ĐT) hoặc lên đến ba năm (bán thời gian ĐT). Với mô hình ĐT kép, hệ thống dạy nghề ở Đức nổi tiếng vào bậc nhất trên thế giới ở khía cạnh gắn liền lí thuyết với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp vì chính doanh nghiệp cũng góp phần (kinh phí và giảng dạy) trong quá trình ĐT nghề. Như vậy, nhà trường sẽ đóng vai trò trang bị KT lí thuyết 10 nghề nghiệp chuyên môn, còn doanh nghiệp trang bị KN và phương pháp lập kế hoạch cho công việc; vận dụng lí thuyết đã học vào thực tiễn tại DN. Tổ chức InWent của Đức đã giới thiệu về ĐT nghề theo MT năng lực – MT đầu ra trong tài liệu hội thảo chủ đề “Đào tạo theo năng lực” (Competency-Based Training) tháng 11 năm 2013.

Trong tài liệu này đã giới thiệu đa dạng các mô hình ĐT nghề, phát triển chương trình và quản lí ĐT theo MT năng lực đầu ra. Tại các nước phát triển như Canada, Singapore, Hàn Quốc, Phần Lan đều đặt MTĐT nghề đáp ứng được sự phát triển kinh tế thị trường, gắn với thực tế hoạt động nghề nghiệp của người học sau ra trường. Một số công trình về lĩnh vực này chẳng hạn, công trình GD và ĐT theo MT năng lực (đầu ra) của Finch Curtis [70]. Công trình này tập hợp bài viết của nhiều tác giả giới thiệu về CBET và nguồn gốc, các mô hình GD và ĐT nghề, phát triển chương trình ĐT.

Công trình “Handbook of Competency Mapping” giới thiệu về mô hình tổ chức, thiết kế và thực hiện ĐT nghề theo MT năng lực của Seema Sanghi [71]. Tại Canada: theo nguyên Bộ trưởng Bộ Hợp tác quốc tế Beverley J.Oda Honourable thì “Một lực lượng có tay nghề sẽ tăng cường nền tảng cho doanh nghiệp, các ngành Công nghiệp cũng như tăng cường ổn định xã hội của cộng đồng. Trong sự phát triển quốc gia, giáo dục cơ bản chỉ là bước đầu tiên cho những người lao động mà họ cần được đào tạo kĩ năng nghề với kĩ thuật chất lượng cao để tham gia vào sản xuất” [77]. Canada đang đầu tư trong lĩnh vực GD kĩ thuật và ĐT nghề, gắn ĐT với nhu cầu thị trường, tăng cường mối liên kết giữa các tổ chức dạy nghề Canada với các nước đang phát triển.

Hiệu quả của GD kĩ thuật và ĐT nghề ở Canada đã góp phần tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng thị trường lao động của địa phương và cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Canada đã thành công trong GD kĩ thuật và 11 ĐT nghề nhờ có sự tham gia một phần của khu vực tư nhân và đảm bảo được sự gắn kết giữa ĐT và nhu cầu thị trường lao động. Tại Singapore: sự phát triển quan trọng nhất trong lịch sử ĐT nghề ở Singapore là vào năm 1992, Viện GD kĩ thuật (ITE) thuộc Bộ Giáo dục được thành lập. Viện GD là một phần của hệ thống GD quốc dân, với nhiệm vụ “tối đa hóa tiềm năng con người ở Singapore thông qua giáo dục kĩ thuật và đào tạo” để phát triển chất lượng của lực lượng lao động, giúp Singapore tăng cường cạnh tranh toàn cầu.

Chức năng chính của ITE là thúc đẩy và ĐT kĩ thuật cho học sinh (HS) các trường trung học sau khi tốt nghiệp; ĐT, bồi dưỡng kĩ thuật cho lực lượng lao động thông qua GD thường xuyên và ĐT, quản lí cấp chứng nhận tiêu chuẩn kĩ năng kĩ thuật [78; 79]. Tại Hàn Quốc: từ những năm 1980 - 1990, tuyển sinh trong các trường CĐ nghề tăng lên rõ rệt. Để tăng cường sự liên kết giữa các trường và các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực GD kĩ thuật nghề nghiệp, HS sau 2 năm học nghề tại trường học sẽ có 1 năm được ĐT thực tế tại các công ty. Từ năm 1996, chương trình cải cách GD (bao gồm cả việc cải cách GD nghề nghiệp) được Ủy ban cải cách GD (PCER) đề xuất.

Mục tiêu cải cách GD nghề nghiệp là thiết lập một hệ thống dạy nghề dài hạn. Để khuyến khích DN tự ĐT, Chính phủ đã giới thiệu đề án phát triển năng lực dạy nghề cùng với việc ban hành Luật đào tạo nghề vào năm 1999. Theo Luật đào tạo nghề, DN vừa là nơi sản xuất kinh doanh, vừa là nơi ĐT dạy nghề [80]. Theo quan niệm của UNESCO: yêu cầu đối với sản phẩm ĐT đại học (người tốt nghiệp) trong thời đại hiện nay phải đạt các MT: - Có năng lực trí tuệ và có khả năng sáng tạo và thích ứng.

- Có khả năng hành động (các kĩ năng sống) để có thể lập nghiệp. - Có năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể học thường xuyên, suốt đời. 12 - Có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, văn hóa toàn cầu.) để có khả năng hội nhập. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các trường ĐH quốc tế thì SV phải là những người: - Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ học để bảo đảm tính chuẩn mực, khuôn mẫu.

- Có khả năng thích ứng với công việc mới chứ không chỉ trung thành với một chỗ làm duy nhất. - Biết vận dụng những tư tưởng mới chứ không chỉ biết tuân thủ những điều được định sẵn. - Biết đặt ra những câu hỏi đúng chứ không chỉ biết áp dụng những lời giải đúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dạy Học Kỹ Thuật May 2 Theo Tiếp Cận Mục Tiêu Cho Sinh Viên Cao Đẳng" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về phương pháp giảng dạy kỹ thuật may, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng tiếp cận mục tiêu trong giáo dục nghề nghiệp. Tài liệu này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các kỹ năng cần thiết trong ngành may mà còn khuyến khích họ phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Những lợi ích này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn chuẩn bị cho sinh viên sẵn sàng hơn khi bước vào thị trường lao động.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hcmute khảo sát mức độ thích ứng của học sinh với môi trường học nghề tại trường cao đẳng nghề việt nam singapore, nơi nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên trong môi trường học nghề. Bên cạnh đó, tài liệu Đánh giá mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp nghề sản xuất gốm thô hệ trung cấp trường cao đẳng nghề viglacera cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về khả năng đáp ứng công việc của sinh viên tốt nghiệp trong ngành sản xuất gốm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho sinh viên trong ngành may.