CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG 1. Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến khả năng thích ứng của con người với sự thay đổi hoàn cảnh 1. Những nghiên cứu về thích ứng với sự thay đổi môi trường sống trên thế giới Xã hội càng phát triển càng đòi hỏi con người phải có khả năng thích ứng ở trình độ cao. Những nghiên cứu khoa học về sự thích ứng sẽ giúp con người mở ra nhiều khả năng mới trong việc chinh phục và cải tạo thế giới, hoàn thiện nhân cách.
Trên thế giới đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề thích ứng học tập, thích ứng với môi trường sống mới và thích ứng với nghề nghiệp. Người đầu tiên được coi như người khởi xướng của tâm lý học thích ứng, đó là nhà tâm lý học người Anh Spencer. Với tác phẩm này, dựa trên học thuyết tiến hoá, ông đã phân tích quá trình thích ứng tâm lý ở con người để đưa ra luận điểm: "Cuộc sống là sự thích ứng liên tục của các mối quan hệ bên trong với mối quan hệ bên ngoài". Tác giả Spencer (1855) đã mở ra con đường nghiên cứu quan trọng về thích ứng tâm lý, nhưng việc xây dựng cơ chế thích ứng mới chỉ mang tính chất sinh học và các quá trình tâm lý, ý thức được coi như là một công cụ của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường.
Do đó, đã đánh đồng sự phát triển tâm lý ý thức theo quy luật sinh học, mang tính di truyền. Hạn chế của Spencer và các tác giả kế thừa ông là không thấy được bản chất xã hội của các mối quan hệ giữa "quá trình bên trong" và "quá trình bên ngoài" của sự thích ứng [32].Andreeva trong cuốn “Thanh niên và giáo dục” tác giả đã đi sâu phân tích khái niệm “thích ứng”, từ đó vạch rõ sự khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm “thích nghi” và “thích ứng”. Điểm đáng chú là tác giả đã vận dụng quan điểm của tâm lí học hoạt động vào nghiên cứu vấn đề thích ứng. Từ đây, vấn đề thích ứng luôn được gắn với hoạt động có đối tượng của chủ thể.
Hai quá trình này 6 Luan van diễn ra đồng thời, trong đó sự thích ứng là tiền đề cho hoạt động có hiệu quả của nhân cách với các vai trò xã hội khác nhau. Nghiên cứu thích ứng về hoạt động học tập là nghiên cứu về hành vi, các tác giả trên thế giới nghiên cứu hành vi thích nghi gồm 3 thành phần: 1/ Một động lực dùng như một kích thích cho hành vi (ví dụ: đói, khát); 2/ Một khung cảnh môi trường hay hoàn cảnh mà sinh vật ở trong đó; 3/ Một phản ứng thoả mãn động lực kia (ví dụ: ăn, uống). Ở một khía cạnh khác, sự thay đổi môi trường văn hóa cũng là nguyên nhân gây ra sự hụt hẫng cho sinh viên. Đối với những sinh viên nước ngoài khi học tập trong môi trường văn hóa mới do khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, môi trường sống đã tạo ra những khó khăn nhất định cho quá trình học tập của họ.
Nguyên nhân là do chính sự không thích ứng với môi trường mới và hậu quả của nó là những rắc rối nảy sinh trong đời sống tâm lý của họ [30]. Một số nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp dựa trên các tiêu chuẩn sinh lý. Họ đã nghiên cứu khá sâu sắc cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường. Những phản ứng sinh lý, những biến đổi của các hệ số tương quan đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh được đề cập trong nghiên cứu và nghiên cứu chỉ ra những biến đổi rất cụ thể.Pavlov đã công bố tác phẩm “Những tiêu chuẩn sinh lí của sự thích ứng”.
Với phương pháp khảo sát bằng phiếu trắc nghiệm về sinh lý ở sinh viên Anh đang học tập trong nước và sinh viên Anh đang ở nước ngoài, các tác giả nhận thấy tỉ lệ sinh viên tại Anh có vấn đề về tâm lý là 14% trong khi đó tỉ lệ này ở sinh viên đang nước ngoài luôn cao hơn: Ai cập: 22,5%; Nigienia: 28,1%; Thổ Nhĩ Kỳ: 21%. Hạn chế của nghiên cứu này là các tác giả không đưa yếu tố tác động của xã hội vào trong nghiên cứu. Những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới với những chuẩn mực mới và việc không thích ứng với nó sẽ dần đến những hậu quả tiêu cực 7 Luan van trong đời sống và hoạt động của con người. Các nghiên cứu thích ứng hoạt động học tập trên thế giới đa số được nghiên cứu dựa trên khía cạnh sinh lý và thích ứng văn hóa được nghiên cứu giữa các nền văn hóa khác nhau của các quốc gia.
Đề tài này quan tâm nghiên cứu mức độ thích ứng của học sinh trường nghề dựa trên điều kiện sống, mối quan hệ xã hội, nghề nghiệp, hoạt động học tập trong nhà trường và không nghiên cứu yếu tố thích ứng văn hóa giữa các vùng miền trong một quốc gia. Những nghiên cứu về thích ứng với sự thay đổi môi trường học tập ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu bước đầu về những vấn đề cụ thể của sự thích ứng học đường của sinh viên đại học, Đã có nhiều đề tài nghiên cứu thích ứng hoạt động học tập của sinh viên năm nhất, sinh viên nữ năm nhất. Bằng phương pháp nghiên cứu khảo sát và thống kê theo các chỉ số thích ứng, kết quả cho thấy sự thích ứng học tập của các em tăng dần theo từng năm. Tuy nhiên đến khi ra trường vẫn còn một tỉ lệ nhỏ chưa thích ứng được.
Và các nghiên cứu cũng cho thấy, có những sinh viên khi còn học ở phổ thông có học lực giỏi, đạo đức tốt thi đậu vào trường với kết quả cao nhưng vẫn không thích ứng được với hoạt động học tập ở đại học [1][2][3]. Các đề tài chưa nghiên cứu sâu các tiêu chí có mức thích ứng thấp để tìm hiểu những yếu tố nào cản trở khả năng thích ứng của sinh viên từ đó lý giải được nguyên nhân và có những biện pháp tác động tâm lý phù hợp, giúp các em nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động học tập tại trường, nâng cao chất lượng học tập và hiệu quả đào tạo, Ngoài ra, sự lựa chọn nghề nghiệp không đúng theo năng lực, sở thích, nguyện vọng của bản thân cũng ảnh hưởng đến hoạt động học tập. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng có sự tương quan giữa thích ứng nghề nghiệp và thích ứng hoạt động học tập, điều này được thể hiện qua kết quả học tập tăng dần qua từng học kỳ. Tuy nhiên không hẳn tất cả sinh viên thích ứng nghề nghiệp tốt đều có kết quả học tập tốt.
Một số sinh viên qua năm thứ 2, 3 mới xây dựng cho mình phương pháp học tập phù hợp, hoặc chấp nhận nghề đang học vì 8 Luan van không còn cơ hội đổi nghề khác hoặc một số sinh viên mong muốn có tấm bằng loại giỏi để dễ xin việc nên họ cố gắng đạt kết quả tốt bằng nhiều cách [4][5]. Vì vậy kết luận có sự tương quan giữa thích ứng nghề nghiệp và thích ứng học tập chỉ mang tính tương đối. Các tác giả chưa nghiên cứu sự tương quan thích ứng nghề nghiệp với tình trạng sinh viên nghỉ học. Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài tập trung vào nghiên cứu thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập trong môi trường đại học và sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp đại học.
Ở Việt Nam, đối tượng nghiên cứu cho vấn đề này chủ yếu là sinh viên đại học và học sinh lớp mẫu giáo hoặc lớp 1. Vấn đề thích ứng với môi trường học nghề của học sinh chưa được làm rõ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, người nghiên cứu chọn đề tài “ Khảo sát mức độ thích ứng của học sinh với môi trường học nghề ở Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore” với mong muốn làm rõ thực trạng mức độ thích ứng của học sinh với môi trường học nghề ở trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, qua đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất kiến nghị giúp các em thích ứng tốt hơn với môi trường học nghề nhằm giúp các em yêu nghề hơn từ đó động cơ học tập nâng cao và đạt kết quả học tập tốt. Một số lý thuyết về tâm lý và sự thích ứng tâm lý: Thích ứng thuộc lĩnh vực tâm lý, vấn đề nghiên cứu này có liên quan đến một số lý thuyết về tâm lý như thuyết Tâm lý học hành vi, Thuyết tâm lý học nhân văn, tâm lý học nhận thức, phân tâm học, tâm lý học Mác xít, tâm lý học lứa tuổi,….Nhưng trong đề tài này, người nghiên cứu chỉ đề cập đến Tâm lý học lứa tuổi, thuyết Tâm lý học hành vi, thuyết Tâm lý học nhân văn, thuyết Tâm lý học nhận thức.Tâm lý học lứa tuổi: Lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi trưởng thành.
Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15 – 25 tuổi, được chia làm hai thời kỳ: 9 Luan van + Thời kỳ từ 15 – 18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên + Thời kỳ từ 18 – 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên). Lứa tuổi học sinh học nghề hệ 36 tháng thuộc giai đoạn tuổi đầu thanh niên. Ở lứa tuổi này có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất cũng như tâm sinh lý của các em trong quá trình học nghề. Đặc điểm về sự phát triển thể chất Ở lứa tuổi này là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể.
Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Ở tuổi đầu thanh niên, học sinh dễ bị kích thích và sự biểu hiện giống như lứa tuổi thiếu niên. Tuy nhiên tính dễ bị kích thích ở tuổi thanh niên không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như lứa tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổi này như (hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…) Nhìn chung lứa tuổi này có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên. Sự phát triển của thể ở chất lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới những lựa chọn trong cuộc sống.