Tổng quan nghiên cứu

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tiểu học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh là mục tiêu xuyên suốt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Trong chương trình môn Toán lớp 3, mạch kiến thức Số và phép tính giữ vị trí hạt nhân và đóng vai trò trọng tâm. Nội dung này không chỉ kế thừa, hoàn thiện các phép tính cộng, trừ từ lớp 1 và lớp 2 mà còn hoàn chỉnh toàn bộ bảng nhân, bảng chia từ 2 đến 9, tạo nền móng vững chắc cho học sinh chuyển tiếp lên lớp 4 và lớp 5 với các số tự nhiên trong phạm vi 100.000.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Toán tại nhiều trường tiểu học hiện nay vẫn tồn tại tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều, thiên về cung cấp lý thuyết trừu tượng và rập khuôn theo bài mẫu. Học sinh phần lớn làm bài tập theo thói quen bắt chước, thiếu cơ hội liên hệ toán học với vốn sống thực tế, dẫn đến năng lực tư duy độc lập và kỹ năng xử lý các tình huống toán học còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Hoàng Thị Hương Giang, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Thị Thu Hương tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên hoàn thành vào tháng 6 năm 2022, đã tập trung giải quyết bài toán: Dạy học các phép tính ở lớp 3 theo hướng rèn luyện một số kỹ năng giải quyết vấn đề toán học cho học sinh.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác lập cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng toàn diện và đề xuất 4 nhóm biện pháp sư phạm đột phá nhằm bồi dưỡng kỹ năng giải quyết vấn đề toán học thông qua các phép tính. Đề tài được triển khai khảo sát thực tế trong năm học 2021 - 2022 tại 3 trường tiểu học đại diện trên địa bàn thành phố Lào Cai, tiếp cận trực tiếp 11 giáo viên chuyên trách, 4 cán bộ quản lý cùng 100 học sinh lớp 3. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi kết quả khảo sát cho thấy có tới 93% giáo viên khẳng định việc rèn luyện kỹ năng này là cần thiết và rất cần thiết, đồng thời 90% học sinh thể hiện mong muốn được tham gia các hoạt động khám phá, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học theo định hướng chuẩn hóa của Luật Giáo dục 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của hai lý thuyết giáo dục hiện đại: Thuyết kiến tạo và Lý thuyết dạy học khám phá. Thuyết học tập kiến tạo của Jean Piaget và Lev Vygotsky khẳng định học sinh là chủ thể tích cực tự xây dựng tri thức cho bản thân dựa trên vốn kinh nghiệm sẵn có, thông qua các hoạt động tương tác và giải quyết mâu thuẫn nhận thức. Tiếp nối quan điểm đó, lý thuyết dạy học khám phá do nhà tâm lý học Jerome Bruner thuộc Trường Đại học Harvard khởi xướng nhấn mạnh rằng dạy học không phải là truyền thụ tri thức có sẵn, mà là quá trình giáo viên tổ chức tình huống để người học tự lực phát hiện lại các quy tắc, khái niệm mới, từ đó hình thành phương pháp tư duy khoa học độc lập. Ngoài ra, tác giả vận dụng sâu sắc quan điểm dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Toán của Giáo sư Nguyễn Bá Kim (2011), định nghĩa vấn đề toán học là trạng thái xuất hiện câu hỏi chưa có thuật giải định sẵn, đòi hỏi người học phải kết nối giữa cái đã biết với cái chưa biết.

Luận văn vận dụng mô hình giải quyết vấn đề toán học 4 bước chuẩn mực:

  • Bước 1 là thâm nhập và tìm hiểu vấn đề nhằm nhận diện mâu thuẫn, phân biệt rõ điều kiện đã cho và yêu cầu cần tìm.
  • Bước 2 là tìm giải pháp thông qua các thao tác tư duy quy lạ về quen, phân tích suy ngược suy xuôi và dự đoán giả thuyết.
  • Bước 3 là thực hiện và trình bày giải pháp bằng ngôn ngữ viết hoặc ngôn ngữ nói kết hợp ký hiệu toán học.
  • Bước 4 là nghiên cứu sâu, kiểm tra tính đúng đắn của lời giải và mở rộng vấn đề tương tự.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm sáng tỏ bao gồm: Kỹ năng toán học, Kỹ năng giải quyết vấn đề toán học, Tình huống có vấn đề thực tiễn và Mạch kiến thức Số và phép tính lớp 3. Các khái niệm này được soi chiếu chặt chẽ dưới đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 8 đến 9 tuổi. Ở giai đoạn đầu tiểu học này, nhận thức của trẻ diễn ra bước chuyển nhảy vọt từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác cụ thể, vốn từ ngữ mở rộng mạnh mẽ từ 3.500 đến 4.000 từ lên đến gần 10.000 từ. Đây là cơ sở tâm lý thuận lợi nhất để tổ chức cho học sinh tiếp nhận các phép tính cộng, trừ có nhớ đến 5 chữ số và các phép tính nhân, chia trong phạm vi 100.000.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Toán, sách giáo khoa Toán 3 hiện hành, kết hợp dữ liệu sơ cấp từ phiếu hỏi điều tra an-két, biên bản dự giờ quan sát lớp học và kết quả bài kiểm tra khảo sát chất lượng.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định bài bản với sự tham gia của 11 giáo viên trực tiếp giảng dạy Toán lớp 3, 4 cán bộ quản lý chuyên môn và 100 học sinh lớp 3 tại các trường tiểu học thuộc thành phố Lào Cai. Trong giai đoạn thực nghiệm sư phạm, tác giả đã tiến hành chọn mẫu thực nghiệm trên quy mô 2 lớp học cụ thể: lớp 3A2 làm nhóm thực nghiệm và lớp 3A3 làm nhóm đối chứng.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện theo phân cấp trường học. Nghiên cứu lựa chọn 3 cơ sở giáo dục tiêu biểu với các quy mô và đặc trưng địa lý khác nhau: Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ là trường hạng 1 có quy mô từ 30 lớp học trở lên nằm tại trung tâm đô thị; Trường Tiểu học Kim Đồng là trường hạng 2 với quy mô 15 lớp học; Trường Tiểu học Duyên Hải là trường hạng 3 với quy mô 9 lớp học tọa lạc ở khu vực phía Bắc thành phố. Việc lựa chọn phân tầng này giúp dữ liệu khảo sát phản ánh khách quan, đa chiều và bao quát mọi điều kiện dạy học thực tế.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp chặt chẽ giữa thống kê mô tả (tính tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận toán học (kiểm định điểm số bài kiểm tra, độ lệch chuẩn, tham số hiệu quả thực nghiệm). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chuẩn xác mức độ nhận thức, các khó khăn sư phạm của giáo viên, đồng thời kiểm chứng tính tin cậy và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trước và sau tác động. Toàn bộ lộ trình khảo sát và thực nghiệm được tiến hành xuyên suốt năm học 2021 - 2022 và tổng kết nghiệm thu vào tháng 6 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy bức tranh phân hóa sâu sắc giữa mức độ nhận thức lý luận và năng lực thực hành của giáo viên trong việc tổ chức dạy học giải quyết vấn đề:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức và mức độ tổ chức hoạt động thực tế. Khi được hỏi về mức độ cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề toán học cho học sinh lớp 3, có 66% giáo viên đánh giá rất cần thiết và 27% đánh giá cần thiết (tổng tỷ lệ đồng thuận tích cực đạt 93%), chỉ có 7% cho là ít cần thiết và 0% đánh giá không cần thiết. Tuy nhiên, tần suất thực hiện lại rất thấp: có tới 63,6% giáo viên (7/11 người) thừa nhận hiếm khi tổ chức, 18,2% (2/11 người) thỉnh thoảng thực hiện, và chỉ vỏn vẹn 18,2% giáo viên thực hiện thường xuyên trong các tiết dạy. Đáng chú ý, có 36% giáo viên (4/11 người) nhận định chủ đề phép tính lớp 3 không có cơ hội hoặc ít cơ hội để rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, trong khi 46% cho rằng có cơ hội và chỉ 18% nhìn thấy nhiều cơ hội khai thác.

Thứ hai, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hạn chế xuất phát từ năng lực sư phạm chứ không phải do thiếu thốn cơ sở vật chất. Kết quả điều tra về rào cản dạy học chỉ ra rằng 90% giáo viên (10/11 người) gặp khó khăn do chưa biết cách thức tổ chức hoạt động rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề một cách bài bản. Thêm vào đó, 60% giáo viên (8/11 người) phản ánh thời lượng tiết học không đủ để triển khai các bước tìm tòi. Ngược lại, những khó khăn do học sinh có trình độ không đồng đều chỉ chiếm 27% (5/11 người) và phương tiện công cụ dạy học thiếu thốn chỉ chiếm 17% (3/11 người). Điều này chứng minh nút thắt nằm ở phương pháp giảng dạy của giáo viên đứng lớp.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ giữa nhu cầu học tập tích cực của học sinh và phương pháp tổ chức trên lớp. Có tới 65% học sinh rất mong muốn và 25% học sinh mong muốn (tổng cộng 90%) được tự mình khám phá, tìm tòi kiến thức toán học trong giờ học. Thế nhưng, thực tế chỉ có 10% học sinh được thường xuyên tham gia hoạt động khám phá, 30% thỉnh thoảng được tham gia, trong khi có tới 45% học sinh chỉ được trải nghiệm khi có thầy cô về dự giờ và 15% chưa bao giờ được tham gia hoạt động tự học khám phá.

Thứ tư, học sinh gặp nhiều rào cản kỹ thuật khi thực hiện 4 phép tính cơ bản. Qua dự giờ thực tế, học sinh lớp 3 bộc lộ các lỗi điển hình: hay quên số nhớ trong các phép tính viết có nhớ, nhầm lẫn phép trừ thành phép cộng do chưa hiểu bản chất phép trừ là phép tính ngược, chưa thuộc làu các bảng nhân chia từ 2 đến 9, và quá phụ thuộc vào tính viết mà yếu kém kỹ năng tính nhẩm hoặc ước lượng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên là do thói quen sư phạm truyền thống chuộng lối giảng giải, minh họa một chiều. Giáo viên thường lo ngại việc cho học sinh tự tìm tòi sẽ làm cháy giáo án 35 phút, nên có xu hướng đưa ra chỉ dẫn quá chi tiết, cầm tay chỉ việc, vô tình tước đoạt cơ hội tư duy độc lập của học sinh. Ở phần luyện tập, thay vì để học sinh tự phân tích đề, giáo viên lại gợi ý toàn bộ cách giải cho cả lớp. Kết quả này tương đồng với các cảnh báo của Jerome Bruner và Nguyễn Bá Kim: khi người học bị biến thành đối tượng tiếp nhận thụ động, các kỹ năng tư duy bậc cao như phân tích, lập kế hoạch và khái quát hóa sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được mô tả qua hệ thống biểu đồ và bảng số liệu khoa học. Cụ thể, mức độ nhận thức được biểu diễn bằng biểu đồ hình quạt tròn thể hiện tỷ lệ áp đảo 66% rất cần thiết và 27% cần thiết. Mức độ khó khăn của giáo viên được trình bày qua biểu đồ cột đơn, phản ánh rõ rệt khoảng chênh lệch giữa rào cản chưa biết phương pháp tổ chức (chiếm 90%) so với hạn chế về cơ sở vật chất (chỉ chiếm 17%). Đồng thời, hiệu quả thực nghiệm sư phạm được đối chiếu qua bảng số liệu thống kê điểm kiểm tra giữa lớp thực nghiệm 3A2 và lớp đối chứng 3A3, cho thấy tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi ở nhóm can thiệp cao hơn từ 15% đến 20%, trong khi tỷ lệ điểm trung bình và yếu giảm mạnh xuống dưới mức 5%. Điều này chứng minh rằng việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng giải quyết vấn đề đã mang lại chuyển biến thực chất về chất lượng học tập.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng dạy học mạch Số và phép tính lớp 3, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm đồng bộ và 1 khuyến nghị đào tạo chuyên môn:

  • Chuẩn hóa và củng cố vững chắc nền tảng kỹ năng tính toán cơ bản: Giáo viên bộ môn chủ động rèn luyện cho 100% học sinh thuộc làu và hiểu rõ bản chất toán học của các bảng nhân, bảng chia từ 2 đến 9; khắc phục triệt để lỗi quên nhớ trong các phép cộng, trừ số có nhiều chữ số. Mục tiêu giảm tỷ lệ tính toán sai sót xuống dưới 5% trong 4 tuần đầu mỗi học kỳ của năm học.
  • Xây dựng và tích hợp hệ thống tình huống có vấn đề gắn liền với thực tiễn đời sống: Tổ chuyên môn khối 3 thiết kế ngân hàng từ 10 đến 15 tình huống thực tế sinh động mỗi học kỳ, gắn liền với các ngữ cảnh quen thuộc như chia sách thư viện lớp học (chia 36 cuốn sách vào 3 ngăn tủ) hoặc bài toán thời sự về quản lý 36.947 liều vắc-xin tại Lào Cai. Mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh hào hứng học tập môn Toán lên trên 85%, tiến hành định kỳ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng năm học 2022 - 2023.
  • Rèn luyện kỹ năng phân tích đề bài và trình bày giải pháp bằng ngôn ngữ toán học: Giáo viên đứng lớp hướng dẫn học sinh kỹ thuật nhận diện từ khóa (như ít hơn tương ứng với phép trừ, gộp lại tương ứng với phép cộng), sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để mô hình hóa và khuyến khích học sinh tự tin trình bày lời giải bằng cả ngôn ngữ nói và viết. Mục tiêu đạt 80% học sinh diễn đạt mạch lạc phương án giải quyết vấn đề trong suốt 35 tuần thực học.
  • Thiết kế hoạt động nhìn lại, kiểm tra lời giải và đào sâu bài toán: Giáo viên bộ môn dành từ 5 đến 7 phút cuối mỗi bài học để hướng dẫn học sinh thực hiện các phép tính thử lại kết quả và suy nghĩ mở rộng bài toán tương tự. Mục tiêu đạt 90% tiết học có hoạt động tự kiểm tra đánh giá, bồi dưỡng thói quen tự sửa sai cho học sinh xuyên suốt năm học.
  • Đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu phương pháp dạy học khám phá cho giáo viên: Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Lào Cai phối hợp cùng các trường sư phạm tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật thiết kế bài giảng kiến tạo. Mục tiêu đảm bảo 100% giáo viên dạy lớp 3 nắm vững quy trình 4 bước giải quyết vấn đề, xóa bỏ tỷ lệ 90% giáo viên lúng túng trước thềm năm học mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo giàu giá trị khoa học và thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giáo viên trực tiếp giảng dạy tiểu học, đặc biệt là giáo viên lớp 3: Thầy cô có thể tiếp cận hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu mực về các bài học phép nhân, phép chia có đến 5 chữ số trong phạm vi 100.000. Giáo viên dễ dàng chuyển hóa từ phương pháp truyền thụ một chiều sang tổ chức hoạt động khám phá, tiết kiệm từ 10 đến 15 phút thuyết trình lý thuyết để dành thời gian cho học sinh làm việc nhóm hiệu quả.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn tiểu học: Luận văn cung cấp bức tranh thực trạng sắc nét tại 3 trường tiểu học Kim Đồng, Hoàng Văn Thụ, Duyên Hải với 11 giáo viên và 4 cán bộ quản lý tham gia. Đây là cơ sở khoa học để ban giám hiệu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của Luật Giáo dục 2019.
  • Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và Giáo dục Tiểu học: Công trình cung cấp phương pháp luận nghiên cứu mẫu mực, từ khâu xác định giả thuyết khoa học, thiết kế phiếu điều tra an-két cho 100 học sinh, đến kỹ thuật phân tích số liệu thực nghiệm đối chứng giữa 2 lớp học (lớp 3A2 và lớp 3A3).
  • Chuyên gia biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Các tác giả có thể khai thác kho ngữ liệu tình huống thực tiễn phong phú của luận văn (như bài toán ép 200ml nước dứa, dệt khăn bằng 4.312 thân cây sen) để đưa vào các bộ sách giáo khoa mới, góp phần làm phong phú thêm hệ thống bài tập toán học ứng dụng cho thiếu nhi.

Câu hỏi thường gặp

Mạch kiến thức phép tính ở lớp 3 có vai trò then chốt như thế nào trong việc phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề? Toán 3 là giai đoạn bản lề khi học sinh hoàn thiện toàn bộ các bảng nhân chia từ 2 đến 9 và mở rộng tính toán với số có đến 5 chữ số trong phạm vi 100.000. Đây là thời điểm tư duy của trẻ 8 đến 9 tuổi chuyển từ trực quan cụ thể sang thao tác trí tuệ bên trong. Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề ở giai đoạn này giúp học sinh xử lý thành thạo các bài toán 2 bước tính và tự tin bước vào lớp 4.

Khó khăn lớn nhất của giáo viên khi triển khai phương pháp giải quyết vấn đề môn Toán lớp 3 là gì? Khảo sát thực tế chỉ ra rằng 90% giáo viên gặp khó khăn do chưa được bồi dưỡng bài bản về kỹ thuật tổ chức bài học khám phá, và 60% lo ngại áp lực thời lượng tiết học 35 phút. Nhiều giáo viên có thói quen giảng giải quá chi tiết làm mất đi cơ hội tự học của trẻ. Để tháo gỡ, giáo viên cần phân chia học sinh thành các nhóm nhỏ từ 2 đến 4 em và giao nhiệm vụ vừa sức.

Học sinh lớp 3 thường mắc phải những lỗi sai phổ biến nào khi học các phép tính? Khảo sát thực tế chỉ ra 3 lỗi sai kinh điển: quên không cộng số nhớ trong các phép tính viết có nhớ, nhầm lẫn phép trừ với phép cộng do chưa nắm vững bản chất phép tính ngược, và quá phụ thuộc vào tính viết mà yếu kém kỹ năng tính nhẩm hoặc ước lượng. Ngoài ra, việc chưa thuộc chắc các bảng chia căn bản khiến học sinh thường xuyên tìm sai thương số.

Làm thế nào để xây dựng tình huống có vấn đề mang tính thực tiễn hấp dẫn học sinh lớp 3? Giáo viên cần đưa toán học vào các câu chuyện đời thường gần gũi với trẻ. Ví dụ thực tế trong luận văn là bài toán xếp 36 cuốn sách vào 3 ngăn tủ của thư viện lớp, hoặc bài toán tính số lượng 23.941 liều vắc-xin đã tiêm trong tổng số 36.947 liều được cấp tại Lào Cai. Những tình huống này vừa giúp thành lập phép tính trừ, vừa giáo dục ý thức phòng chống dịch bệnh cho các em.

Tiến trình dạy học khám phá một phép tính mới được thực hiện qua các bước cụ thể nào? Tiến trình gồm 5 bước chặt chẽ: Bước 1 ôn tập tái hiện kiến thức cũ; Bước 2 giáo viên nêu tình huống có vấn đề mới; Bước 3 học sinh làm việc theo nhóm từ 2 đến 4 em để dự đoán và đề xuất giả thuyết giải quyết; Bước 4 thực hành kiểm nghiệm và điều chỉnh kết quả; Bước 5 các nhóm báo cáo giải pháp và giáo viên chuẩn hóa kiến thức mới cùng quy tắc tính.

Kết luận

  • Đề tài khẳng định tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học môn Toán lớp 3 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Luận văn phản ánh trung thực thực trạng dạy học phép tính tại 3 trường tiểu học thành phố Lào Cai thông qua tiếng nói của 11 giáo viên và 100 học sinh, chỉ rõ 90% giáo viên đang gặp vướng mắc về phương pháp.
  • Nghiên cứu đề xuất thành công 4 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ, gắn chặt lý luận dạy học khám phá với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 8 đến 9 tuổi.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 2 lớp 3A2 và 3A3 chứng minh tính khả thi vượt trội của các biện pháp, giúp nâng cao tỷ lệ học sinh khá giỏi thêm từ 15% đến 20%.
  • Công trình mở ra giải pháp tháo gỡ toàn diện các rào cản sư phạm, giúp giáo viên tiểu học chuyển đổi thành công từ lối dạy học truyền thụ sang bồi dưỡng năng lực tư duy toán học thực chất.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã cụ thể hóa các lý thuyết kiến tạo và dạy học khám phá thành quy trình thực hành sư phạm rõ ràng, gắn lý thuyết toán học trừu tượng với các tình huống thực tiễn sinh động của học sinh lớp 3. Kế hoạch tiếp theo trong năm học 2022 - 2023 là mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp này tới 100% các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Lào Cai và các tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc. Các nhà trường và quý thầy cô giáo hãy chủ động áp dụng ngay những giải pháp sư phạm này vào từng tiết học phép tính lớp 3 để khơi dậy niềm đam mê toán học và chắp cánh tư duy sáng tạo cho các em học sinh ngay từ những năm đầu cấp tiểu học.