CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm và phân loại năng lực 1. Khái niệm năng lực “Năng lực” là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, song trở nên phổ biến và được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX với nhiều quan điểm tiếp cận và cách định nghĩa khác nhau. Có một số ý kiến khẳng định khái niệm năng lực được nhắc đến lần đầu từ những tác phẩm của nhà Triết học cổ Hy Lạp Platon (380 TCN).
Trong tiếng Latin, năng lực xuất hiện dưới hai hình thức: Đầu tiên là “competens”, có nghĩa là “có thể và được phép của pháp luật/quy tắc”; hình thức thứ hai là “competentia”, có nghĩa là “có khả năng và sự chấp nhận”. Vào thể kỉ XVI, khái niệm năng lực xuất hiện trong các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hà Lan. Mặc dù vậy, phải đến những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, khái niệm năng lực mới được quan tâm và nghiên cứu khi nó được coi là đích đến trong việc phát triển giáo dục và hướng nghiệp cho con người trong bối cảnh xã hội hiện đại. Hiện nay, trong các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục, năng lực được tiếp cận và định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực được hiểu theo hai nghĩa là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện vận động nào đó” và “phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Như vậy, có thể nói: năng lực không chỉ đơn giản là khả năng của con người để thực hiện một hoặc một số công việc nào đó mà còn đòi hỏi con người phải có tri thức, thái độ, trách nghiệm cao.639] Trong giáo trình Lí luận dạy học hiện đại của NXB Đại học Sư phạm, đc in năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Cường đã đưa ra định nghĩa: “Năng là khả 12 năng thực hiện có trách nhiệm, hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở vận dụng những hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cá nhân.”[1] Chương trình Giáo dục Phổ thông (chương trình tổng thể) được ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành CTGDPT định nghĩa: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [8; tr. Có thể thấy, dù được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, nhưng những nhận định này đều khẳng định: Năng lực là những kiến thức, kỹ năng cá nhân thu nhận được qua quá trình học tập và rèn luyện, được sử dụng để giải quyết các tình huống một cách hiệu quả bằng những kiến thức, phương pháp,… phù hợp.
Người có năng lực là người biết kết hợp vận dụng tri thức với việc rèn giũa kỹ năng một cách thành thạo để đạt được hiệu quả cao. Tuỳ theo năng lực của mỗi người mà kết quả đạt được ở mức độ khác nhau. Phân loại năng lực Hệ thống năng lực trong chương trình được phân loại thành năng lực chung và năng lực đặc thù môn học. Năng lực chung là năng lực cơ bản thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của HS. Hệ thống những năng lực chung bao gồm: năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. 13 Hệ thống năng lực đặc thù của HS bao gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học; năng lực công nghệ, năng lực tin học; năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất. Hai loại năng lực này có mối liên hệ rất đặc biệt khi năng lực chung là cơ sở để hình thành năng lực đặc thù môn học và năng lực đặc thù của các môn học góp phần hình thành năng lực chung cho người học.
Yêu cầu cần đạt của dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cấp THCS 1. Yêu cầu cần đạt về các năng lực chung a) Năng lực tự chủ và tự học Thông qua việc hình thành và phát triển những kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn trở thành công cụ quan trọng để HS học các môn học khác và tự học. HS có khả năng tự thực hiện các nhiệm vụ học tập bằng cách tự tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn nguồn tài liệu phù hợp; HS biết lưu trữ và xử lí thông tin bằng các hình thức phù hợp. HS sẽ phát triển được vốn sống, khả năng nhận biết cảm xúc, tình cảm, cá tính; biết làm chủ hành vi, có tinh thần lạc quan trong học tập và đời sống thông qua việc đọc, viết, nói và nghe các kiểu, loại văn bản trong môn Ngữ văn.81] b) Năng lực giao tiếp và hợp tác Môn học đóng vai trò chủ đạo trong hình thành và phát triển NL giao tiếp cho HS chính là môn Ngữ văn.
Việc học tập bộ môn Ngữ văn giúp HS có thể xác định mục đích giao tiếp, lựa chọn nội dung, kiểu văn bản, ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phù hợp; chủ động, tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái độ trong giao tiếp. Mặt khác, thông qua việc học tập môn Ngữ văn giúp HS đồng cảm và thấu hiểu với suy nghĩ, thái độ, tình cảm của người khác; thiết lập và phát triển các 14 mối quan hệ xã hội; kĩ năng làm việc nhóm phát triển từ đó hiệu quả hợp tác được tăng cường [9, tr. c) Năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo Những biểu hiện của NL giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn Ngữ văn: HS đánh giá được nội dung của văn bản, biết lựa chọn, phân tích các nguồn thông tin đa dạng khác nhau; khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng, HS biết quan tâm tới các chứng cứ; biết đánh giá tình huống, các vấn đề dưới góc nhìn khác nhau. Thông qua việc học môn Ngữ văn, HS có được khả năng đề xuất ý tưởng, tạo ra sản phẩm mới; biết cách giải quyết vấn đề sáng tạo, phù hợp với thực tiễn.
Bởi môn Ngữ văn luôn đề cao vai trò tích cực, chủ động của HS không chỉ trong hoạt động tiếp nhận mà trong việc tạo nghĩa cho văn bản. Yêu cầu cần đạt về các năng lực đặc thù môn Ngữ văn cấp THCS Ở Việt Nam việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực người học nhằm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04-11-2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó có môn Ngữ văn. Việc phát triển năng lực trong dạy học Ngữ văn, mà cụ thể là phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù dĩ nhiên không thể chỉ thực hiện cục bộ ở một khâu, một bước, một yếu tố nào, mà phải từ tổng thể trong sự tương tác tích cực giữa các khâu, các bước, các yếu tố. Xây dựng Chương trình với hệ thống chuẩn năng lực và ngữ liệu thích hợp; biên soạn SGK, đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá,.; phát triển đồng thời các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe; kĩ năng phản biện, kĩ năng khai thác, cập nhật thông tin, cùng nhiều kĩ năng khác; v.
Tất cả đều phải đồng bộ, bảo đảm tính hệ thống. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cũng quy định rõ các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của HS đối với môn Ngữ văn. Trong đó có năng lực 15 ngôn ngữ (năng lực được thể hiện qua các hoạt động: đọc, viết, nói, nghe) và năng lực văn học. a) Năng lực ngôn ngữ Đối với hoạt động đọc, chương trình Ngữ văn 2018 yêu cầu đối với cấp trung học cơ sở như sau: Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; viết đọc văn bản theo kiểu, loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản.
Nhận biết và bước đầu biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết so sánh văn bản này văn bản khác, liên hệ với những trải nghiệm cuộc sống của cá nhân từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận riêng về cuộc sống, làm giàu đời sống tinh thần [9, tr. Đối với hoạt động viết, CT Ngữ văn 2018 yêu cầu đối với THCS như sau: - Ở lớp 6 và lớp 7: viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu biết viết bài văn nghị luận, thuyết minh, nhật dụng. - Ở lớp 8 và lớp 9: viết được các bài văn tự sự, nghị luận và thuyết minh hoàn chỉnh, theo đúng các bước và có kết hợp các phương thức biểu đạt… viết đúng quy trình, biết cách tìm tài liệu để đáp ứng yêu cầu viết văn bản; có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và biết cách trích dẫn văn bản [9, tr. Đối với hoạt động nói và nghe, chương trình Ngữ văn 2018 yêu cầu đối với cấp THCS như sau: HS trình bày dễ hiểu có ý tưởng và cảm xúc; có thái độ tự tin khi nói trước nhiều người; kể lại được một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe, biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ý tưởng của mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đã nghe; thuyết minh về một đối tượng hay quy trình; biết cách nói thích hợp với mục đích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; biết sử dụng hình ảnh, ký hiệu, biểu đồ, … để trình bày vấn đề một cách hiệu quả [9, tr.
16 Nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết và bước đầu đánh giá được lý lẽ, bằng chứng mọi người nói sử dụng; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe một cách hiệu quả.