Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, bố cục luận văn chia làm 2 chương. Cơ sở lí luận và thực tiễn. Cơ sở lý luận trình bày các khái niệm cần thiết của luận văn như: dạy học E.K; giải thích về môn tự chọn. Cơ sở thực tiễn trình bày tổng quan về trường quốc tế Việt Anh, đánh giá thực trạng dạy bộ môn E.K tự chọn tại trường.
Từ những cơ sở trên, luận văn triển khai nội dung chính của đề tài ở chương 2. Xây dựng chương trình giảng dạy và thực nghiệm sư phạm. 13 Ở chương này, chúng tôi trình bày các căn cứ, nguyên tắc để xây dựng chương trình, các nội dung dạy môn E.K tự chọn cho HS bậc THCS trường quốc tế Việt Anh, nghiên cứu quy cách nhận xét, đánh giá đối tượng học. Chúng tôi cũng trình bày mục đích, yêu cầu, phương pháp, kế hoạch thực nghiệm; quá trình và kết quả thực nghiệm dạy các tiết tự chọn môn E.K khối lớp 6, 7, 8 trường quốc tế Việt Anh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm dạy học Các nhà lý luận phương Tây đã có nhiều tìm tòi nhằm chuyển hóa dạy học mang tính truyền thống sang dạy học tích cực. Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này là Jean Vial [34], theo ông, quá trình dạy học chủ yếu quyết định bởi 3 yếu tố tạo thành 3 đỉnh của 1 tam giác, đó là: Nội dung dạy học - khách thể, GV - tác nhân, HS - chủ thể. Các yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Jean Vial so sánh 3 yếu tố này ở các cấp độ khác nhau theo chiều hướng tiến triển tích cực và việc tương tác ở từng cấp độ sẽ ứng với phương pháp dạy học tương ứng.
Jean Vial qua cuốn sách Histoire de l'éducation [34] cho rằng: Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người. Dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ cho rằng dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được. Trên cơ sở đó việc dạy học có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học. Trong Từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên [13, tr.244] có khái niệm về mặt ý nghĩa, “dạy” mang nhiều ý nghĩa về hoạt động tương tác truyền đạt có tính hệ thống, có phương pháp.
Dạy học là hoạt động hướng dẫn giữa GV và HS, GV có thể tiếp nhận phản hồi, giải đáp thắc mắc song song với truyền đạt, bao gồm trong đó cả tính 15 “động” nhiều hơn là “giảng” mang nặng về tính truyền đạt kiến thức, lí thuyết của GV hướng đến HS, thường theo hướng một chiều, kiến thức được GV gửi đến HS thông qua ngôn ngữ nói. Điều kiện vật chất trong dạy học như: sách, vở, phòng học, nơi sinh sống (nông thôn, thành thị, núi cao, ven biển), địa điểm dạy học… tất cả đều tác động đến quy trình tổ chức dạy học. Hoạt động dạy gồm 2 chức năng truyền đạt và điều khiển, luôn luôn tương tác và thống nhất với nhau, xuất phát từ lôgic khoa học của khái niệm và lôgic sư phạm tâm lí học lĩnh hội. Từ vị trí chủ thể tổ chức, người dạy hướng dẫn, quyết định chất lượng giáo dục, đảm bảo các nội dung chính.
Người dạy xác định hoạt động dạy hướng đến mục đích người học nắm vững toàn bộ kiến thức với nhận thức biến đổi, liên hệ với thực tiễn thông qua các kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, thực hành. Đồng thời người dạy đảm bảo người học phát triển nhân cách, đạo đức và những giá trị nhân sinh khác với ý nghĩa trở thành nguồn lực lao động có ích trong tương lai, phục vụ xã hội, đất nước, tổ quốc. Người dạy có nghĩa vụ vận hành hệ thống kiến thức tác động vào đối tượng học tập bằng những phương pháp sư phạm khác nhau, nhằm hình thành nhận thức của người học phát triển theo đúng mục đích giáo dục. Trong đó người dạy xây dựng nội dung hoạt động dạy, chuyển tải khối lượng kiến thức đảm bảo người học tiếp thu chủ động, tích cực và hiệu quả.
Người dạy tiến hành nhiều phương pháp dạy khác nhau, giúp người học nhanh chóng nắm vững kiến thức, triển khai ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn qua kiểm nghiệm, đối chứng và thành thạo các kĩ năng thực hiện. Tóm lại, theo chúng tôi, dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và định hướng của người dạy giúp người học hình thành năng lực 16 tư duy, hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, tăng cường hiểu biết, hoàn thiện kĩ năng, gìn giữ và phát triển giá trị văn hóa của nhân loại; trên cơ sở đó, có khả năng giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống, xã hội. Dạy học âm nhạc Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật gồm thanh nhạc và khí nhạc, dùng để diễn tả tình cảm, cảm xúc của con người (âm thanh) hoặc khơi gợi, dẫn dắt cảm xúc, sự liên tưởng của người khác thông qua giai điệu (khí nhạc). Tất cả những âm thanh này đều bắt nguồn từ trong cuộc sống, diễn tả lại những tình cảm của con người trong cuộc sống hàng ngày với những giai điệu, nhịp điệu, giai điệu rõ ràng theo 4 tính chất sau: - Cao độ: Mức độ trầm bổng của âm thanh - Trường độ: Mức độ ngắn dài của âm thanh - Cường độ: Mức độ mạnh nhẹ của âm thanh - Âm sắc: có thể giống nhau về cao độ, trường độ, cường độ nhưng khác nhau về âm thanh.
Dạy học âm nhạc bao gồm các phương pháp, kỹ thuật và hoạt động nhằm truyền đạt kiến thức và kỹ năng âm nhạc cho HS. Mục tiêu của dạy học âm nhạc là giúp người học hiểu và cảm nhận âm nhạc, phát triển khả năng thực hành và biểu diễn âm nhạc, cũng như khơi dậy niềm đam mê và sự sáng tạo trong âm nhạc. Dạy học âm nhạc không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức và kỹ năng mà còn chú trọng đến việc phát triển toàn diện con người, giúp HS cảm nhận và yêu thích âm nhạc, đồng thời phát triển các kỹ năng mềm như sự tự tin, khả năng làm việc nhóm, và khả năng tư duy sáng tạo. Đối với việc dạy học âm nhạc trong trường phổ thông, có thể hiểu một số khía cạnh trong hoạt động dạy học âm nhạc như: 17 a/ Kiến thức âm nhạc: Bao gồm lý thuyết âm nhạc, lịch sử âm nhạc, và hiểu biết về các thể loại, phong cách và tác phẩm âm nhạc.
b/ Kỹ năng âm nhạc: Bao gồm kỹ năng đọc nhạc, kỹ năng sử dụng nhạc cụ, kỹ năng hát… c/ Phương pháp giảng dạy: Có thể là dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân, dạy học qua trò chơi, hoặc sử dụng công nghệ để hỗ trợ việc học. d/ Hoạt động trải nghiệm: HS có thể tham gia các hoạt động như biểu diễn, tham gia các hình thức diễn tấu như độc tấu, hòa tấu; tham gia câu lạc bộ âm nhạc, hoặc tham gia các cuộc thi âm nhạc. e/ Phát triển thẩm mỹ âm nhạc: Giúp HS phát triển khả năng cảm nhận và đánh giá âm nhạc một cách sâu sắc, từ đó hình thành thẩm mỹ âm nhạc riêng của mình. f/ Tính sáng tạo: Khuyến khích HS sáng tạo trong âm nhạc, từ việc sáng tác nhạc đến việc biểu diễn và thể hiện cảm xúc qua âm nhạc.
Đối với HS trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hướng HS đến việc sáng tạo ra các câu nhạc dạo đầu, gian tấu, câu kết bài…. Dạy học âm nhạc không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức và kỹ năng mà còn chú trọng đến việc phát triển toàn diện con người, giúp HS cảm nhận và yêu thích âm nhạc, đồng thời phát triển các kỹ năng mềm như sự tự tin, khả năng làm việc nhóm, và khả năng tư duy sáng tạo.3 Nhạc cụ Electric keyboard E.K đã có mặt trên thế giới từ những năm 1950 và nhanh chóng trở nên phổ biển ở Việt Nam. Cuối những năm 1980 đến đầu năm 1990, E.K trở nên thông dụng hơn và việc học E.K đã trở thành trào lưu. Trong giai đoạn này, E.K đã trở thành công cụ đắc lực, hữu hiệu đưa kiến thức âm nhạc phổ thông đến công chúng.K được hòa nhập và đến gần hơn với mọi người, có mặt trong 18 nhiều hoạt động âm nhạc quần chúng; đã xuất hiện nhiều loại đàn đa dạng về thương hiệu, chất lượng, giá cả, ngày càng dẫn đến việc phổ biến hơn, dễ thu hút mọi người.
Tại Việt Nam, E.K thường được gọi là đàn Organ. Với tên này, người ta dễ nhầm lẫn với một loại đàn khác là Organ nhà thờ (Church Organ/Pipe Organ) hay còn gọi là Đại phong cầm, vốn được sử dụng trong nhà thờ hoặc các phòng hòa nhạc lớn. Trải qua quá trình phát triển, E.K phân thành nhiều loại khác nhau, với hình dáng, chức năng, phù hợp với mục đích của người sử dụng: Có loại có một tầng phím, có loại nhiều tầng phím; loại có dàn pedal đạp cho các nốt bass; có loại có loa phát âm thanh đi liền, có loại không có loa mà kết nối thông qua thiết bị âm thanh bên ngoài.K sử dụng nguồn điện để hoạt động, một số có thể dùng pin và đây cũng là nhược điểm vì không sử dụng được khi không có điện.K có hệ thống kĩ thuật vừa tương đồng vừa khác biệt với đàn Piano. Sự tương đồng giữa E.K và Piano là cấu tạo bàn phím.
Khác biệt so với đàn Piano là E.K có thể mô phỏng âm sắc hầu hết các loại nhạc cụ phổ biến trên thế giới hoặc tạo các âm thanh điện tử (synthesize). Nhưng nổi bật nhất vẫn là hệ thống hòa âm tự động (Auto accompaniment), tạo âm hưởng dàn nhạc đệm phong phú (nhạc cụ dây (kéo, gẩy), kèn (gỗ, đồng), nhạc cụ gõ (định âm, không định âm)… với các tiết tấu tự động đã cài đặt sẵn. Với sự phát triển công nghệ và nhu cầu sử dụng, ngày nay E.K có thêm nhiều tính năng như có thêm phần thu âm, có thể làm beat, có thêm bộ nhớ lưu tiếng, hỗ trợ đọc đĩa CD, USB.