Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương này có mục đích làm rõ các nghiên cứu liên quan đến đề tài đã giải quyết được những gì, khoảng trống nghiên cứu là gì, thông qua đó xác định các mục tiêu, đối tượng, mục đích, phương pháp. cho nghiên cứu của tác giả. Sau khi nghiên cứu, tác giả nhận thấy là các đề tài đã được nghiên cứu trước đó mới chỉ xem xét, quan tâm, phân tích sự phát triển bền vững trong ngắn hạn, chưa có sự nghiên cứu tính bền vững trong dài hạn, đây chính là khoảng trống ii nghiên cứu mà tôi đã nhận thấy, “ đầu tư phát triển bền vững công nghiệp trong dài hạn” cũng là đóng góp mới, có ý nghĩa của tôi cho nghiên cứu này. Chương 2: Lý luận chung về đầu tư phát triển công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh.
Chương này tôi xây dựng khung lý thuyết về đầu tư phát triển công nghiệp và đầu tư phát triển công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững. Đưa ra khái niệm thế nào là công nghiệp, thế nào là đầu tư phát triển công nghiệp, thế nào là định hướng phát triển bền vững, cần đầu tư như thế nào để công nghiệp có sự phát triển bền vững. Ngoài ra, tôi còn xây dựng hệ thống các chỉ tiêu nhằm đánh giá thực trạng và kết quả của đầu tư phát triển công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững. Lý luận chung về phát triển bền vững: + Khái niệm phát triển bền vững: Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai. + Các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của phát triển bền vững: Mục tiêu bền vững kinh tế, xã hội, môi tường và 7 nguyên tắc gồm: Nguyên tắc về sự uỷ thác của nhân dân; Nguyên tắc phòng ngừa; Nguyên tắc công bằng giữa các thế hệ; Nguyên tắc công bằng trong cùng một thế hệ; Nguyên tắc công bằng về quyền tồn tại của con người và sinh vật trái đất; Nguyên tắc phân quyền và uỷ quyền; Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, người sử dụng môi trường phải trả tiền. + Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững theo các mục tiêu: sử dụng bộ chỉ thị kinh tế, xã hội và môi trường do Lê Trình và cộng sự xây dựng từ năm 2002. Lý luận về đầu tư phát triển công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững: - Khái niệm cơ bản về công nghiệp và đầu tư phát triển công nghiệp: + Khái niệm công nghiệp: Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo.
Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật. iii + Công nghiệp theo nghĩa là một ngành kinh tế: Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa". Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v. Công nghiệp là một trong 3 mũi nhọn chính bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, và dịch vụ.
Công nghiệp có vai trò quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế. Nó giúp tạo ra sản phẩm vật chất phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của con người, với phương thức sản xuất ngày càng hiện đại, năng suất lao động ngày càng cao, với quy mô sản xuất lớn. Ví dụ những hoạt động được coi như là hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp như: đầu tư nâng cấp hay xây mới các cơ sở công nghiệp phục vụ sản xuất; đầu tư vào giáo dục, xây dựng trung tâm đào tạo nghề làm tăng trình độ lao động phục vụ ngành công nghiệp; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông nhằm mục đích phát triển khu công nghiệp. + Khái niệm về đầu tư phát triển công nghiệp: Đầu tư phát triển công nghiệp được hiểu là việc bỏ vốn, thời gian, sức lực dưới bất kỳ hình thức nào nhằm làm tăng năng lực sản xuất của ngành công nghiệp trong tương lai.
+ Các đặc trưng cơ bản trong đầu tư phát triển công nghiệp: • Đặc trưng thứ nhất, đầu tư sản xuất công nghiệp theo định hướng tập trung hoá, chuyên môn hóa và hợp tác hoá cao. • Đặc trưng thứ 2, đầu tư phát triển công nghiệp tạo ra khả năng tiêu thụ lượng lớn các nguồn lực đầu vào. • Đặc trưng thứ 3, đầu tư phát triển công nghiệp tạo khả năng đổi mới công nghệ, khả năng nắm bắt công nghệ mới. • Đặc trưng thứ 4, đầu tư phát triển công nghiệp tạo khả năng thích ứng và phân bố trên mọi vùng lãnh thổ.
• Đặc trưng thứ 5, đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp làm tăng phát thải. • Đặc trưng thứ 6, đầu tư phát triển sản xuấttcông nghiệp có thể gây mất hài hòa lợi ích các bên. - Nguồn vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp: iv + Nguồn vốn trong nước: Nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển công nghiệp gồm có vốn nhà nước và vốn tư nhân. Vốn nhà nước hình thành từ ngân sách nhà nước, vốn tư nhân hình thành từ cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn nước ngoài: Nguồn vốn nước ngoài được hình thành từ hai nguồn chính gồm có ODA (vốn hỗ trợ phát triển chính thức) và FDI (Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài). - Nội dung đầu tư phát triển công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững: Phần này là một phần lý luận quan trọng trong đề tài nghiên cứu này, gồm có 4 nội dung như sau: + Đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững: Đầu tư vào hạ tầng cứng và đầu tư vào hạ tầng mềm một cách hợp lý. + Đầu tư phát triển bền vững trong các cơ sở công nghiệp: sử dụng vốn cố định cho đầu tư và đầu tư phát triển nhân lực một cách bền vững. + Đầu tư phát triển các phân ngành công nghiệp bền vững: Liệt kê 13 nhóm ngành công nghiệp hiện có và đưa ra nhận xét, đánh giá và định hướng đầu tư cho từng ngành theo định hướng phát triển bền vững.
+ Đầu tư nâng cao năng lực quản lý công nghiệp của chính quyền địa phương: Đầu tư nâng cao hiệu quả công tác lập kế hoạch, quy hoạch, mục tiêu phát triển bền vững công nghiệp; Đầu tư nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm sát, giám sát sự phát triển của công nghiệp; Đầu tư cho công tác hoàn thiện hệ thống quy định, quy tắc, chế tài và các hệ thống luật pháp liên quan; - Chỉ tiêu phân tích đầu tư phát triển công nghiệp bền vững: + Chỉ tiêu đánh giá thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp: Tổng số dự án đầu tư và tổng vốn đầu tư. + Chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả của đầu tư phát triển công nghiệp: Tăng trưởng GDP công nghiệp; Tốc độ gia tăng vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp; Hệ số ICOR trong đầu tư phát triển công nghiệp. - Quy luật đầu tư phát triển công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững: + Lý luận về quy luật phát triển công nghiệp: Quy luật phát triển kinh tế: Theo lý luận của Rowtos, nền kinh tế phát triển theo những giai đoạn sau: • Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống cũ • Giai đoạn 2: Chuẩn bị cất cánh v • Giai đoạn 3: Cất cánh • Giai đoạn 4: Trưởng thành • Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao Quy luật phát triển và đầu tư phát triển công nghiệp: Qua một nghiên cứu gần đây nhất của Phạm Huy Hoàng về quy luật phát triển công nghiệp của các nước phát triển, tác giả đã tìm ra mối liên quan mật thiết giữa những quy luật cơ bản trong kinh tế học và đầu tư đến tốc độ phát triển, tăng trưởng kinh tế. Quy luật Đầu tư phát triển công nghiệp của các nước phát triển, tức các nước đã trải qua thời kỳ đỉnh cao của công nghiệp hóa như sau: • Giai đoạn chuẩn bị cất cánh, bắt đầu xuất hiện công nghiệp.
Ở các nước phát triển diễn ra từ năm 1784, cuộc CMCN lần thứ nhất, con người chuyển từ lao động chân tay sang sử dụng máy móc như máy hơi nước, máy dệt. Thời kỳ này đầu tư phát triển các ngành khai thác, công nghiệp nặng phát triển mạnh. • Giai đoạn cất cánh, công nghiệp phát triển mạnh. Ở các nước phát triển diễn ra từ năm 1840, cuộc CMCN lần thứ II, con người chế tạo ra các loại động cơ đốt trong, chế tạo ra các máy móc sử dụng điện.
Thời kỳ này đầu tư phát triển các ngành cơ khí, chế tạo máy, các ngành công nghiệp sản xuất phát triển mạnh do có công cụ, máy móc hiện đại, năng suất cao. • Giai đoạn trưởng thành, công nghiệp đạt đến đỉnh cao. Ở các nước phát triển giai đoạn này diễn ra từ năm 1960, cuộc CMCN lần thứ III, con người phát minh ra công nghệ điện tử, viễn thông, mạng internet, máy tính. Thời kỳ này đầu tư phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao.
• Giai đoạn tiêu dùng cao, công nghiệp đạt điểm dừng của sự tăng trưởng. Đến thời điểm này, ở các nước phát triển, công nghiệp bắt đầu dần ngừng tăng trưởng theo chiều rộng, chuyển hướng đầu tư phát triển công nghiệp ra nước ngoài do có chi phí sản xuất thấp hơn, cơ cấu ngành trong nươc thay đổi, chuyển hướng sang đầu tư phát triển dịch vụ, dịch vụ ở các nước phát triển hiện nay đạt 70% trong cơ cấu kinh tế, tạo nên một xã hội tiêu dùng. Nghiên cứu phần này chỉ ra nhiều các vấn đề đầu tư phát triển công nghiệp của các nước đã từng trải qua thời kỳ phát triển công nghiệp đỉnh cao. Đặc biệt chỉ ra trạng thái dừng của sản lượng công nghiệp của các nước phát triển, thời điểm khi mà đầu tư tăng nhưng không làm gia tăng được sản lượng công nghiệp do quy luật vi hiệu quả giảm theo quy mô, thời điểm quy mô lớn ở mức mà đầu tư không tạo thêm tăng trưởng.