Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN DE ĐẦU TRANH VỚI VIỆC LỢI DUNG TON GIÁO DE CHONG PHA DANG, NHÀ NƯỚC VA KHOI ĐẠI DOAN KET DAN TOC TREN BAO CHÍ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về tôn giáo, lợi dụng tôn giáo + Khái niệm về tôn giáo Đến nay, khái niệm tôn giáo vẫn còn nhiều ý kiến, là vấn đề mà các nhà khoa học, nhà nghiên cứu từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau quan tâm tìm hiểu. Từ góc độ triết học, các nhà duy vật trước C.Ăngghen dưới nhiều góc độ khác nhau có cái nhìn về tôn giáo không có thiện cảm, ở mức độ nào đó tôn giáo còn bị nhìn nhận hết sức tiêu cực.
Trong đó, Mac-Lénin nhìn nhận tôn giáo là sản phẩm của con người, con người hiện hữu, con người tồn tại trong xã hội.Mác đã khăng định, sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống su nghèo nàn hiện thực ấy và C.Mác tiếp tục nhân mạnh: “Tôn giáo là tiếng thở đài của chúng sinh bị áp bức, là trái tìm cua thé giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh than của những trật tự không có tỉnh than. Tôn giáo là thuốc phiện cua nhân dan” [9, tr. Quan diém nay cting dugc ghi nhan trong tac pham Chống Duy- rinh: “Nhung tat cả mọi tôn giáo chang qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong dau óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chỉ phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở tran thé đã mang hình thức những lực lượng siêu tran thé” [10, tr. Hay “Tôn giáo là thể giới quan lộn ngược” [9, tr.
Từ góc độ xã hội học, các nghiên cứu coi tôn giáo là một loại thiết chế cơ bản trong cách con người tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình. Thiết chế điều chỉnh hành vi, thực hiện những hình thức răn đe, trừng phạt thành viên, liên kết cộng đồng, giúp cá nhân và nhóm vượt qua những căng thang, lo âu và 16 bất an. Là cách con người từ xưa tới nay giải thích về ý nghĩa cuộc sông. Bên cạnh yếu tố tích cực, tôn giáo cũng là một trong nhiều nguyên nhân tạo nên những xung đột xã hội.
Do đó, Durkheim (1858-1917), theo trường phái chức năng luận đã chỉ ra: “Tôn giáo là một hệ thong nhất của các niém tin và thực hành liên quan đến cái thiêng, nghĩa là những thứ được tách biệt và cam ki, là những niém tin và thực hành cũng nhu tín dé được kết nối vào một cộng đồng đạo đức đơn nhất goi là Giáo hộ?” [Emile Durkheim (1995), The Elementary Forms of Religiuos life, Translated and with an Introduction by Karen E.Fields, New York: The free Press, pp. Trong định nghĩa nay, ông đã chi ra được hạt nhân của tôn giáo là niềm tin và thực hành hướng tới cái thiêng; sự phân tách thiêng - pham là tâm điểm của tôn giáo; một cộng đồng của những người có cùng niềm tin được kết nói bởi Giáo hội và đạo đức. Tiếp cận tâm lý học tôn giáo, khái niệm tôn giáo lại được hiểu gắn với niềm tin nảy sinh ra những tình cảm tôn giáo: “Tôn giáo luôn là một nguồn kinh nghiệm cảm xúc sâu sắc. Tôn giáo là sự quan sát cần thận và tỉ mỉ về những tác động và ảnh hưởng không phải do hành động tuỳ ý của cá nhân tạo ra (numinosum); ngược lại, nó chiếm giữ và điều khiển chủ thể con người, con người luôn là nạn nhân của nó hơn là người tạo ra nó; tôn giáo chỉ thái độ đặc biệt đối với một ý thức đã bị thay đổi bởi kinh nghiệm của numinosum.
Tôn giáo bao gồm các yếu tố kỳ diệu, huyền bí và toàn diện trong do; no không chỉ tập trung vào các gid tri con người ma còn vượt xa những giá tri ấy” [Michael Argyle (2000), The relation between psychology and religion, Routledge. Princeton University Press, pp. Nhu vậy, khái niệm tôn giáo dù được hiểu theo cách nào di chăng nữa thì cũng luôn gan liền với với van đề dân tộc. Ở các dân tộc khác nhau, cách hiểu về tôn giáo là không giống nhau.
Ở Việt Nam, cách hiểu về tôn giáo cũng có những điểm khác biệt, trong cuốn “Những vấn dé lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam”, nhà nghiên cứu tôn giáo Đặng Nghiêm Vạn đã trích 17 dẫn câu của Hồ Chủ Tịch “Người An nam không có linh mục, không có tôn giáo, theo cách nghĩ của Châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội. Chúng tôi không có những người tu tế nào. Chúng tôi không biết uy tin của thay cúng, của linh mục là gi” [39, tr.
Ở Việt Nam, khái niệm tôn giáo được các nhà tư tưởng, các nhà nghiên cứu quan tâm. Theo TS Nguyễn Văn Kiệm, một tôn giáo được Nhà nước thừa nhận phải đáp ứng các yêu cầu như: (1) Một niềm tin vào một đắng siêu nhiên có vai trò quyết định với vận mệnh của con người trong cuộc sông hiện đại cũng như cuộc sông bên kia; (2) một hệ thống lễ nghi đôi khi đơn giản, đôi khi phức tạp, cầu kỳ nhằm giúp tín đồ thường xuyên gắn bó với niềm tin; (3) một tô chức nhân sự ít nhiều quy mô và hệ thống điều hành việc hành đạo của các tin đô, là những người được đảo tạo có uy tín với tín đồ; (4) hệ thống luân lý đạo đức cho người tu hành, đây là thành tố được coi là quan trọng nhất [28, tr. Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên năm 1999, tôn giáo được hiểu “Tôn giáo dân tộc. Hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sting bái thượng dé, than linh: nghiên cưu về tôn giáo, van dé tôn giáo.
Các đạo nói riêng như đạo Phật, đạo Thiên Chua, dao Hài. Ở nước ta có các tôn giáo khác nhaw” [41, tr. Dưới góc độ quản lý Nhà nước về tôn giáo, trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thì tôn giáo năm 2016 được hiểu “la niém tin của con người ton tại với hệ thong quan niệm và hoạt động bao gôm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghỉ và tổ chức ” [33]. Bàn về khái niệm tôn giáo, chúng ta cũng cần phân biệt khái niệm này với khái niệm tín ngưỡng.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo và tín ngưỡng. Có ý kiến cho rằng, tín ngưỡng đôi khi cũng được hiểu là tôn giáo, bởi cơ sở của cả tín ngưỡng và tôn giáo là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái siêu nhiên. Có ý kiến coi tín ngưỡng là yếu tố cấu thành tôn giáo. Trong khi đó, đại từ điển Tiếng Việt năm 1998 đưa ra khái 18 niệm tín ngưỡng là: “Tin ngưỡng (dt) là: lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo ” [41, tr.
Từ các khái niệm trên có thé thay, tin ngưỡng là hệ thống các niềm tin của con người vào những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi thế giới tự nhiên. Nhờ có niềm tin đó mà con người tin vào để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho bản thân và cộng đồng. Tuy nhiên, chúng ta thấy giữa tín ngưỡng và tôn giáo tuy có những điểm tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt và không thể là một. Trong đó, điểm khác biệt quan trọng giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo; tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo.
Trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo thì tín ngưỡng được giải thích “la niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghỉ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tỉnh thân cho cá nhân và cộng đồng ” [32]. Từ sự phân tích trên có thé đưa ra khái niệm về tôn giáo như sau: Tôn giáo là niém tin của con người vào một hoặc một số đối tượng được tôn tho, có hệ thong giáo lý, giáo luật, lé nghỉ và có cơ cấu tổ chức. + Khái niệm về lợi dụng tôn giáo Theo khái niệm đã nêu về tôn giáo ở trên có thê thấy tôn giáo thường đóng một vai trò quan trọng trong đời sông xã hội va văn hóa của một quốc gia hoặc cộng đồng. Tuy nhiên, việc lợi dụng tôn giáo được thé hiện qua các trường hợp khi tôn giáo bị lợi dụng hoặc sử dụng cho mục đích riêng, thường là những mục đích không tốt hoặc không tôn trọng giá trị tôn giáo.
Cụ thê như sau: Chính trị lợi dụng tôn giáo: Một trong những cách thường thấy để lợi dụng tôn giáo là trong mục tiêu chính trị. Các chính tri gia hoặc nhóm chính trị có thể cố găng tận dụng tôn giáo dé thu hút sự ủng hộ của người dân hoặc tạo ra mối chia rẽ trong xã hội. Họ có thể sử dụng thông điệp tôn giáo dé thúc đây mục tiêu chính tri của họ, thay vì tuân thủ các giá tri tôn giáo thực sự. 19 Lợi nhuận kinh té từ tôn giáo: Một số người hoặc tô chức có thé thay tôn giáo là một cơ hội dé kiếm lợi nhuận.
Chang han, họ có thể sản xuất và bán các sản phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến tôn giáo mà không tuân theo nguyên tắc đạo đức thực sự của tôn giáo đó. Điều này có thể gây ra sự phản cảm từ cộng đồng tín đồ. Xúc phạm tôn giáo: Một SỐ người có thể lợi dụng tôn giáo dé tạo ra sự xúc phạm hoặc hình ảnh tiêu cực về một tôn giáo cụ thé. Điều này có thé dan đến xung đột va gây ton hại cho mối quan hệ giữa các tôn giáo và cộng đồng.
Miễn trách nhiệm tài chính hoặc xã hội: Có trường hợp người cá nhân có thé lợi dụng tôn giáo để tránh trách nhiệm tài chính hoặc xã hội. Chang hạn, họ có thể tuyên bố mình là người tôn thờ một tôn giáo cụ thê để tránh trừng phạt về một tội phạm hoặc dé hưởng lợi từ các quyền và ưu đãi dành cho tín đồ. Lợi dụng tôn giáo có thé gây ra sự hoang mang, xung đột và làm mat đi lòng tin của người dân đối với tôn giáo và giá trị tôn giáo. Điều quan trọng là hiểu rằng tôn giáo nên được tôn trọng và coi trong vì nó có thé mang lại lợi ích tỉnh thần và xã hội cho mọi người, và không nên bị lợi dụng cho mục đích cá nhân hoặc chính tri.