Chương 1: Lý luận cơ bảnvề đào tạo CNKT và phương pháp đào tạo tại chỗ Chương 2: Thực trạng hoạt động đào tạo CNKT tại công ty TNHH Em-Tech Việt Nam Chương 3: Phương hướng sản xuất kinh doanh và một số giải pháp nhằm hoàn thiện cách thức đào tạo tại chỗ trong đào tạo CNKT tại công ty TNHH Em Tech Việt Nam 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÀO TẠO TẠI CHỖ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm và phân loại công nhân kỹ thuật Khái niệm công nhân kỹ thuật Hiện nay có rất nhiều khái niệm và quan niệm khác nhau về công nhân kỹ thuật, ở nước ta hiện nay xuất hiện hai xu hướng chủ đạo về quan niệm công nhân kỹ thuật. Xu hướng thứ nhất cho rằng CNKT phải là người được đào tạo, có bằng cấp chứng chỉ.
Tức là chỉ những người lao động đã qua đào tạo và được cấp bằng hoặc chứng chỉ mới được coi là CNKT. Trong đó tiêu biểu là khái niệm CNKT được trình bày trong giáo trình Kinh Tế Nguồn Nhân Lực [2;112] “CNKT là người được đào tạo và được cấp bằng ( đối với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề từ 1 đến 3 năm) hoặc chứng chỉ ( đối với nhũng người tốt nghiệp các chương trình dạy nghê ngắn hạn dưới 1 năm) của bậc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục để có năng thực thực hành – thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu”. Vậy CNKT được hiểu là những công nhân được đào tạo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, được cấp bằng hoặc chứng chỉ nghề nghiệp, nhằm đảm bảo họ có đủ năng lực thực hành – thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu, trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ của DN. Luật Dạy nghề cũng đưa ra khái niệm tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề [16;7].
Các tiêu chuẩn kỹ năng nghề đặt ra những yêu cầu cụ thể về mức độ thực hiện công việc cho CNKT ở những trình độ lành nghề ( bậc thợ) nhất định và những đòi hỏi ở các mức độ nhất định về kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc thuộc nghề đó. Để có được kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết, CNKT phải được đào tạo trong những khoảng thời gian phù hợp và được chứng nhận về trình độ lành nghề của mình để có thể đảm nhận những công việc ở các mức độ nhất định theo yêu cầu của sản xuất. Như vậy khái niệm CNKT ở trên tập trung nhấn mạnh vào việc đào tạo và bằng cấp, chứng chỉ. Theo Luật Dạy Nghề, các cơ sơ đào tạo nghề trình độ sơ cấp bao gồm: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Trung tâm dạy nghề + Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp + Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác ( sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp.
( trích Điều 15 – Luật Dạy nghề 76/2006/QH11) Như vậy CNKT được cung cấp từ 3 nguồn chính: Được đào tạo chính quy tại các trường dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, đào tạo nghề nghiệp trước khi đi làm việc (ngoài nhà trường), và đào tạo tại chỗ tại các DN. Xu hướng thứ hai cho rằng CNKT bao gồm cả những công nhân chưa được đào tạo tại trường lớp cũng như không được cấp chứng nhận chứng chỉ nhưng có kinh nghiệm và thâm niên làm việc lâu năm cũng được coi là CNKT. Trên thực tế hiện nay có một bộ phận lớn người lao động đã hoàn thành hoặc trải qua ít nhất một khoá đào tạo tại doanh nghiệp làm việc, đang tham gia sản xuất mà vẫn chưa có hoặc không có bằng cấp, chứng chỉ nghề nghiệp, do vậy sẽ không được xem là CNKT theo quan điểm thứ nhất. Tuy nhiên theo thống kê lao động việc làm hàng năm của bộ LĐ-TB&XH, các công nhân kỹ thuật không có bằng, chững chỉ là những người tuy chưa qua một trường lớp đào tạo nào, nhưng do tự học , do được truyền nghề hoặc vừa học vừa làm nên họ có những kỹ năng, tay nghề tương đương với bậc 1 của CNKT có bằng cùng nghề và thực tế đã làm công việc đang làm từ 3 năm trở nên.
Như vậy các CNKT không có bằng hoặc chứng chỉ vẫn được công nhận và tính đến trong các số liệu báo cáo và thống kê chính thức. Theo xu hướng rộng hơn về CNKT, Tiến sĩ Bùi Tôn Hiến trong luận án Tiến sĩ của mình cho rằng lao động qua đào tạo nghề là những người lao động đã hoàn thành ít nhất một chương trình đào tạo của một nghề tại một cơ sở đào tạo nghề ( gồm cả các cơ sở sản xuất kinh doanh) và được cấp văn bằng chứng chỉ nghề hoặc được thừa nhận theo các quy định hiện hành [14;16]. Khi xem xét việc lao động đã từng được đào tạo ( đã từng trải qua) thì không xem xét về mặt năng lực thực tế , không đặt nặng văn bằng chứng chỉ, mà chủ yếu trên góc độ người đó đã từng được/ tham gia học nghề. Như vậy lao động qua đào tạo nghề được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau và được hiểu rộng là đối tượng đã được trải qua học nghề dưới 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều hình thức khác nhau.
Do vậy CNKT không chỉ có nhóm CN được ĐT chính quy tại trường, lớp dạy nghề, mà bao gồm CN được đào tạo ở cả ba cấp trình độ trong nhà trường, và được dạy nghề bởi DN các sơ sở dạy nghề ngoài nhà trường hoặc tự học được truyền nghề và được thừa nhận bởi các quan niệm hiện hành. Theo tác giả luận văn, khái niệm CNKT nên được hiểu theo một nghĩa rộng như sau “CNKT bao gồm những công nhân đã trải qua ít nhất một khoá đào tạo nghề tại một cơ sở đào tạo nghề, được cấp văn bằng chứng chỉ và những công nhân chưa có văn bằng chứng chỉ nhưng có kinh nghiệm làm việc và được thừa nhận đủ năng lực thực hành – thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu”. Như vậy, CNKT bao gồm hai nhóm sau: Nhóm CNKT có bằng cấp/ chứng chỉ nghề và nhóm CNKT không có bằng cấp chứng chỉ nhưng có kinh nghiệm làm việc. Phân loại công nhân kỹ thuật Phân loại theo tính chất công việc: Theo tính chất của lao động thông thường, người ta chia CNKT thành hai loại sau đây: + CNKT là những người thừa hành kỹ thuật ở trong các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường…ví dụ: lái xe, lái cẩu, thợ điện, thợ hàn + Nhân viên chuyên môn kỹ thuật là những người thừa hành kỹ thuật ở các cơ sở dịch vụ và phục vụ xã hội như: nhân viên bồi bàn, y tá, dược tá, kỹ thuật viên y, dược trong các bệnh viên… Phân loại theo ngành nghề: Theo ngành nghề, người ta phân chia CNKT ra rất nhiều loại và sử dụng tên khác nhau cho mỗi loại.
Ví dụ: Công nhân may,CN kỹ thuật điện, CNKT bào, CNKT định hình, công nhân kỹ thuật hàn, công nhân vận hành máy… Phân loại theo cấp đào tạo: Hiện nay hệ thống đào tạo được chia thành các cấp đào tạo: + Trường cao đẳng kỹ thuật: Đây là loại hình đào tạo CNKT cao cấp cho một số ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ cao như: cao đẳng kỹ thuật công nghệ, kỹ thuật điện tử…. Loại hình này từ 3-3,5 năm + Trường Trung học chuyên nghiệp: là loại hình đào tạo công nhân chuyên môn kỹ thuật cho các lĩnh vực ngành nghề, loại này đào tạo từ 2 – 3 năm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Trường dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo CNKT có tính chất chính quy chuyên nghiệp đào tạo lao động cho các ngành, lĩnh vực cụ thể. Loại hình này thường được đào tạo từ 12-27 tháng + Lớp cạnh xí nghiệp: Đây là loại hình đào tạo đặc thù dùng để đào tạo lao động kỹ thuật bậc thấp cung cấp nhu cầu trực tiếp cho các xí nghiệp. Loại hình này thường đào tạo 9-12 tháng.
Phân loại theo trình độ: Theo trình độ đào tạo hiện nay, chúng ta cần xác định rõ hai loại sau đây: + Phân công theo thời gian đào tạo thường có: CNKT đào tạo từ 1 – 2 năm và CNKT cao cấp đào tạo từ 2 – 3 năm + Phân theo trình độ lành nghề: Phân theo trình độ lành nghề, chúng ta cần phần theo mức độ phức tạp của nghề nghiệp. Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của nghề nghiệp mà chúng ta có thể xác định số lượng các bậc thợ khác nhau để phân định và thời gian lưu trữ trung bình ở các bậc thợ, chứng chỉ, chứng nhận kèm theo cho các bậc thợ. Ví dụ như công nhân kỹ thuật may, dệt, chế biến thực phẩm thường có 5 bậc, CNKT cơ khí thường có 7 bậc. Chúng ta cần phải xây dựng tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật cho mỗi ngành nghề để làm căn cứ cho đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề.
Khái niệm đào tạo CNKT trong doanh nghiệp 1. Khái niệm đào tạo Các khái niệm giáo dục, đào tạo đều đề cập đến một quá trình tương tự : quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc. Điều đó cũng có nghĩa là giáo dục đào tạo được áp dụng để làm thay đổi việc người lao động biết gì, làm như thế nào và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với các đồng nghiệp và với lãnh đạo. Tuy nhiên trong thực tế lại có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm giáo dục và đào tạo, về sự tương đồng và khác biệt giữa hai khái niệm này.
Giáo trình quản trị nhân lực – đại học kinh tế quốc đân (2004) cho rằng Giáo dục được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai [11;161]. Cũng theo giáo trình này thì : Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.