CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng là sức lao động của con người, một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp [8, tr8]. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [5, tr8].
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với những hoạt động của cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động môi trường xung quanh [2, tr1].
Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Tóm tại, trong báo cáo này có thể hiểu nguồn nhân lực của một tổ chức/doanh nghiệp là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm đạt được các mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp, tổ chức đó đặt ra. Bất kỳ doanh nghiệp/tổ chức nào cũng được hình thành dựa trên các thành viên (nguồn nhân lực).2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ [8, tr133]. 3 Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy phát triển nguồn lực con người tri thức, phát triển các kỹ năng và các phẩm chất lao động mới, thúc đẩy sáng tạo thành tựu khoa học – công nghệ mới, đảm bảo sự vận động tích cực của các ngành nghề, lĩnh vực và toàn xã hội.
Quá trình đào tạo làm biến đổi nguồn lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, phát triển toàn bộ và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tnh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng này đến trình độ chất lượng khác cao hơn hoàn thiện hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước [4, tr7]. Đào tạo là hoạt động nhằm giúp người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Hiểu một các cụ thể hơn, đào tạo là một quy trình có hoạch định và tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc [2, tr197]. Tóm lại, có thể hiểu đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động học tập có tổ chức, diễn ra trong những khoảng thời gian xác định nhằm hướng vào việc giúp cho người lao động nắm rõ hơn chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở công việc hiện tại, bổ sung những kỹ năng, kiến thức còn thiếu để thực hiện công việc một cách tốt hơn trong tương lai.3 Vai trò của hoạt động đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động quan trọng mang tính chiến lược của quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp [7, tr125].
Trước hết, hoạt động đào tạo trong doanh nghiệp được ưu tiên hướng đến việc giúp cho người lao động thích nghi với môi trường nghề nghiệp, nâng cao khả năng hoàn thành các nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Nâng cao khả năng, thái độ và hiểu biết hiện có của nhân viên. Như vậy, cần có kế hoạch thực hiện và triển khai tổng thể các hoạt động, cung cấp phương tiện để thúc đầy nhân viên phát triển năng lực làm việc. Vì vậy, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trước tiên là đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của người lao động.
4 Hai là, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. 5 Ba là, đào tạo đòi hỏi cần phải mất chi phí tài chính và không dễ dàng đối với doanh nghiệp. Nhưng để thành công trong quản lý nguồn nhân lực thì thay đổi nhận thức là bước đột phát đối với các lãnh đạo và quản lý trong công ty. Nhận thức đào tạo không chỉ là chi phí đơn thuần mà là một sự đầu tư có lợi nhất trong dài hạn và cần được chi tiêu, quản lý một cách hợp lý.4 Các hình thức đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Đào tạo trong công việc Đào tạo trong công việc là việc thực hiện công tác đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, theo đó những người lao động lành nghề trong doanh nghiệp sẽ hướng dẫn các kỹ năng làm việc các kiến thức thực tế trong công việc và việc thực hiện công việc cho người lao động mới vào làm hoặc những người lao động có tay nghề còn non [8, tr135].
Đào tạo trong công việc bao gồm những phương pháp như sau: - Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn - Đào tạo học nghề - Kèm cặp và chỉ bảo - Luân chuyển và thuyên chuyển công việc Đào tạo theo phương pháp này bắt đầu từ việc giới thiệu, giải thích cho người học về mục tiêu của công việc, từng bước làm việc, hướng dẫn tỉ mỉ, trao đổi với người học và cho làm thử đến khi thành thạo công việc. Ưu điểm của phương pháp này là: Giảm được tối đa chi phí vì không phải thuê địa điểm và không phải thuê giáo viên ngoài, tiết kiệm được thời gian cả cho người dạy lẫn người học. Họ được thực hành ngay những gì mà được học trong công việc thực tế của doanh nghiệp. Nhược điểm: Đôi khi học viên do không sử dụng quen thiết bị hoặc không quen nghiệp vụ có thể làm hỏng thiết bị hoặc làm ảnh hưởng tới hiệu quả công việc chung, dẫn đến trì trệ công việc.
6 Đôi khi những người dạy nghề không có kỹ năng truyền đạt, thiếu kinh nghiệm thì việc học lý thuyết còn gặp nhiều khó khăn và do đó kết quả học tập bị hạn chế. Chỉ áp dụng được với những doanh nghiệp nhỏ. Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn Đào tạo theo phương pháp này bắt đầu từ việc giới thiệu, giải thích cho người học về mục tiêu của công việc, từng bước làm việc, hướng dẫn tỉ mỉ, trao đổi với người học và cho làm thử đến khi thành thạo công việc [1, tr123]. Ưu điểm của phương pháp này là: Giảm được tối đa chi phí vì không phải thuê địa điểm và không phải thuê giáo viên ngoài, tiết kiệm được thời gian cả cho người dạy lẫn người học.
Họ được thực hành ngay những gì mà được học trong công việc thực tế của doanh nghiệp. Nhược điểm: Đôi khi học viên do không sử dụng quen thiết bị hoặc không quen nghiệp vụ có thể làm hỏng thiết bị hoặc làm ảnh hưởng tới hiệu quả công việc chung, dẫn đến trì trệ công việc. Đôi khi những người dạy nghề không có kỹ năng truyền đạt, thiếu kinh nghiệm thì việc học lý thuyết còn gặp nhiều khó khăn và do đó kết quả học tập bị hạn chế. Chỉ áp dụng được với những doanh nghiệp nhỏ.
Đào tạo học nghề Đào tạo theo phương pháp này phải thực hiện theo một số hệ thống cố định, bắt đầu tìm việc học lý thuyết ở trên lớp sau khi đã nắm chắc lý thuyết thì học viên được cư đi học nghề ở các phân xưởng trong một vài năm cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề đó. Ưu điểm của phương pháp này đo là người học được trang bị một lượng kiến thức vững vàng, họ trực tiếp được làm việc luôn nên nắm được những kỹ năng xử lý tình huống trong thực tế. Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế đó là mất nhiều thời gian, chi phí cho đào tạo quá nhiều. 7 Kèm cặp và chỉ bảo Phương pháp này thường dùng cho cán bộ quản lí và các nhân viên giám sát có thể học được các kiến thức, kĩ năng cần thiết cho công việc trước mắt và công việc cho tương lai thông qua kèm cặp, chỉ bảo của những người quản lí giỏi hơn.
Có ba cách kèm cặp là: - Kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp. - Kèm cặp bởi một cố vấn. - Kèm cặp bởi người quản lí có kinh nghiệm hơn. Ưu điểm của phương pháp này như sau: Việc tiếp thu và lĩnh hội các kỹ năng và kiến thức cần thiết là khá dễ dàng.
Và người được đào tạo được làm và ra quyết định trong một số việc do đó có những cái nhìn thực tế hơn. Tuy nhiên bên cạnh ưu điểm phương pháp này còn tồn tại một số hạn chế sau: Không được làm công việc đó một cách đầy đủ, đôi khi những cung cách làm việc của người lãnh đạo không phải là toàn diện nên có thể đã làm ảnh hưởng tới người học. Luân chuyển và thuyên chuyển công việc Phương pháp này áp dụng cho những chương trình đào tạo người quản lý, bằng cách chuyển người học từ những vị trí này sang vị trí khác nhằm làm cho họ nắm được kỹ năng làm việc và kỹ năng xử lý tình huống ở tất cả các lĩnh vực khác nhau để họ có thể làm được những việc cao hơn trong tương lai. Ưu điểm của phương pháp luân chuyên và thuyên chuyển công việc đó là người học có thể được học nhiều kỹ năng quản lý khác nhau, họ được làm nhiều việc thậm chí vượt quá cả chuyên môn của họ, mở mang được kỹ năng học tập của học viên.
Tuy nhiên hạn chế ở chỗ: Người học viên không được hiểu sau về công việc đang làm do thời gian làm việc ở mỗi vị trí quá ngắn.