Chương I ). Ở định nghĩa này ông nêu lên 3 điểm quan trọng trong giáo dục như sau: Điểm thứ nhất, “sự chủ ý” của người truyền đạt nhằm hướng đến một ai đó với mục đích có chủ ý, tùy theo người truyền thụ đứng ở vị trí nào mà cách suy nghĩ về chương trình học và phương pháp giáo dục sẽ hoàn toàn khác nhau. Điểm thứ hai trong định nghĩa về “giáo dục” của ông là “học hỏi người khác”. Nói cách khác, giáo dục là một hoạt động can thiệp nhằm cố gắng thay đổi người khác.
Điểm thứ ba trong định nghĩa về giáo dục là “nỗ lực tổ chức” việc học tập của người được giáo dục. Từ những lập luận trên, có thể tóm lược giáo dục là một quá trình đào tạo con người có mục đích; là quá trình truyền đạt - lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm 17 lịch sử - xã hội loài người thông qua việc giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu một cách tích cực nhằm bồi dưỡng và phát triển trí tuệ, kỹ năng, phẩm chất và năng lực của con người. Khi bàn về khái niệm đào tạo có thể chia thành đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này tuy không cùng tính chất đào tạo nhưng chúng gắn bó và hỗ trợ cho nhau với các nội dung tương ứng trong các giai đoạn sản xuất mà đất nước đề ra.
Giáo dục chủ yếu được tổ chức ở nhà trường, các tổ chức hướng nghiệp, cũng có thể tổ chức ở các công ty, xí nghiệp, nhà máy,… Trong khi, đào tạo chủ yếu diễn ra ở công ty, xí nghiệp, nhà máy vì chính những nơi đó người lao động mới có thể áp dụng được những kỹ năng kỹ thuật nghề mà mình được giảng dạy. Nhưng mục đích cuối cùng của hai thuật ngữ này đều là huấn luyện cho người lao động có được tính chất quan trọng và cần thiết nhất khi tham gia lao động sản xuất là kỹ năng của người thợ ở cơ xưởng (Đặng Thị Thanh Huyền, 2001). Từ các quan niệm của các học giả đã nêu ở trên có thể khái quát về quan niệm đào tạo như sau: đào tạo là một quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có kế hoạch thông qua việc giáo dục nhằm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề, giúp người lao động đạt được năng lực, đáp ứng được nhu cầu cần thiết trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Tuy rằng, giáo dục không phải là đào tạo nhưng muốn giáo dục thành công cần phải thông qua công tác đào tạo.
Vì vậy chúng có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Cho nên khi nói đến khái niệm giáo dục có thể được hiểu bao hàm cả giáo dục và đào tạo. Khái niệm về giáo dục nghề nghiệp Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Nhật Bản (Nipponica), “giáo dục nghề nghiệp (職業教育) là giáo dục với mục đích đạt được kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để tham gia vào công việc”. Nó từng được gọi là giáo dục nghề nghiệp hoặc “vocational education” trong tiếng Anh, thuật ngữ này được dùng cho bậc giáo 18 dục trung học, ngày nay nó được coi là bao gồm cả giáo dục chuyên nghiệp hoặc trong tiếng Anh được gọi là “professional education”, thuật ngữ này được dùng cho giáo dục trình độ đại học.
Giáo dục nghề nghiệp không chỉ dừng lại ở trường, mà sau khi tốt nghiệp còn được tiếp tục tham gia vào khóa đào tạo nghề để lĩnh hội những kỹ năng cụ thể, phát triển khả năng thích ứng với công việc một cách nhanh chóng; các khóa đào tạo tại chức để nâng cao kỹ năng chuyên nghiệp trong suốt cuộc đời (Kotobank. Từ điển Bách khoa toàn thư của Nhật Bản (Nipponica). Giáo dục nghề nghiệp). Từ điển Bách khoa quốc tế Britannica nêu rằng, “giáo dục nghề nghiệp là giáo dục nhằm để phát triển các kỹ năng cần thiết cho một nghề nghiệp cụ thể”.
Giáo dục nghề nghiệp được đào tạo có thể là ở trường học, học viện dạy nghề công lập, trường cao đẳng đào tạo chuyên ngành, trường học khác, cơ sở giáo dục trong công ty và phân xưởng. Thứ tự cung cấp giáo dục nghề nghiệp như sau: (1) giáo dục dự bị nghề nghiệp, (2) giáo dục nghề nghiệp cơ bản, (3) giáo dục nghề nghiệp chuyên biệt, (4) giáo dục tại thời điểm đi làm, (5) giáo dục đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp thay đổi nhiệm vụ, (6) Giáo dục để thay đổi công việc, nhưng khi độ tuổi tốt nghiệp phổ thông thường tăng lên, việc nhận được đến giai đoạn thứ ba trước khi đi làm ngày càng trở nên phổ biến, tức là khi vẫn còn đi học (Kotobank. Từ điển Bách khoa quốc tế Britannica. Giáo dục nghề nghiệp).
Trong từ điển Bách khoa toàn thư Mypedia có nêu, “giáo dục nghề nghiệp là giáo dục nhằm lĩnh hội được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để làm việc”. Chủ yếu là giáo dục trung học, giáo dục phổ thông. Ngoài các trường trung học cơ sở kỹ thuật và kinh tế gia đình, trường trung học phổ thông có các khóa học nghề (kế thừa của trường dạy nghề), trường dạy nghề, trường cao đẳng chuyên môn, … các trường khác, trường đào tạo nghề theo Luật dạy nghề, cơ sở giáo dục trong các công ty, …cũng được thực hiện (Kotobank. Từ điển Bách khoa toàn thư Mypedia.
Giáo dục nghề nghiệp). 19 Trước Chiến tranh thế giới thứ II, giáo dục nghề nghiệp còn được gọi là giáo dục thực nghiệp (実業教育), chủ yếu là giáo dục trung học, thường được đề cập từ đại học trở xuống. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, thuật ngữ giáo dục thực nghiệp được biết đến với tên gọi là giáo dục công nghiệp(工業教育) hoặc giáo dục nghề nghiệp(職業教育). Từ những quan niệm trên có thể khái niệm về giáo dục nghề nghiệp như sau: giáo dục nghề nghiệp (giáo dục nghề) trước hết là giáo dục nhằm mang lại một kiến thức chuyên ngành, một kỹ năng chuyên môn phù hợp với khả năng của người lao động để họ tham gia vào quá trình lao động phát triển đất nước.
Giáo dục nghề nghiệp có thể được thực hiện ở các trường như: từ trường trung học, phổ thông, cao đẳng, trường nghề theo Luật dạy nghề và ngay cả ở các trường đại học với cách gọi là giáo dục chuyên nghiệp. Khái niệm trường học, trường nghề Theo từ điển Oxford School Dictionary (2011), “trường học là nơi thực hiện việc giảng dạy, đặc biệt là học sinh trong độ tuổi từ 5-18 tuổi” (tr. Cũng trong từ điển này cũng có cách giải thích trường học ngoài việc giảng dạy, còn là nơi để đào tạo. Theo từ điển Longman Dictionary of Contemporary English (2005), “trường học là nơi để đào tạo hoặc dạy ai đó đạt được một kỹ năng, hành vi hoặc cách suy nghĩ nhất định” (tr.
Trường học (school) tồn tại vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên ở nền văn minh Lưỡng Hà và nền văn minh Ai cập thời cổ đại. Từ nguyên của “trường học” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “thời gian rảnh”, giống như “schule” trong tiếng Đức và “ecole” trong tiếng Pháp (Kimura Hajime, 2015, tr. Ở Châu Âu, trường học tồn tại ở Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại. Trường học lúc đầu chỉ dành cho những người thuộc tầng lớp quý tộc, có thời gian rảnh rỗi.
Mãi đến sau thế kỷ 19, hệ thống trường học dành cho công chúng mới bắt đầu, các trường học hiện đại này dựa trên cơ sở bắt buộc, tự do và trung lập, tập trung vào giáo dục 20 quốc ngữ, quốc sử, … đồng thời thực hiện chức năng như một công cụ nuôi dưỡng những “công dân” của đất nước. Với việc mở rộng giáo dục trường học và phổ biến hệ thống giáo dục bắt buộc, số lượng trường học đã tăng lên đáng kể kể từ thế kỷ 20. Trường học ở Nhật Bản được thành lập vào khoảng năm 670 (Kimura Hajime, 2015, tr.21), thuật ngữ “trường học” từ lâu đã được sử dụng nhưng có rất ít cơ sở giáo dục, cơ sở vật chất có tên “trường học”. Năm 1871, Bộ Giáo dục được thành lập như một cơ quan chính phủ.
Một năm sau đó Bộ Giáo dục ban hành Học chế vào năm 1872, đây được xem là chính sách giáo dục có tính hệ thống đầu tiên của Nhật Bản, chế độ trường học được cấu thành theo ba cấp bậc tiểu học, trung học và đại học theo mô hình của Mỹ. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, theo điều 1 của Luật Giáo dục trường học Nhật Bản quy định: “Trường học là các trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường cao đẳng, đại học, trường chuyên biệt dành cho người khuyết tật hoặc những điều kiện không thuận lợi cho việc học”, khoản 2 điều 82 có ghi “cơ sở giáo dục nằm ngoài danh mục nêu tại điều 1” là các trường chuyên tu (Ozaki Mugen, 2015, tr. Theo Điều 2 Chương 1 của Luật Giáo dục Trường học, các trường được chia thành ba loại. Trường quốc lập - Trường do chính phủ thành lập Trường công lập - Trường do chính quyền địa phương thành lập Trường tư lập - Trường do pháp nhân nhà trường thành lập theo quy định riêng của pháp luật.
Từ điển bách khoa Việt Nam (2005), trường dạy nghề (trường nghề) là cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ. Trường dạy nghề tự do là cơ sở dạy nghề do tư nhân, các nhóm xã hội lập ra và điều hành. Loại trường này có ở nhiều nước và xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam, nhằm góp phần giải quyết việc làm cho xã hội (tr. 21 Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Nhật Bản (Nipponica), giáo dục nghề nghiệp bắt nguồn từ hai nguồn gốc từ thời trung thế.
Một trong số đó là việc đào tạo các chuyên gia như y học, luật sư và linh mục, được thực hiện trong các trường đại học châu Âu. Thứ hai là đào tạo kỹ thuật cho những người bình thường thông qua học nghề trong các bang hội. Trong thời kỳ đầu hiện đại, các trường dạy nghề được thành lập để đào tạo học nghề có tổ chức hơn. Ví dụ, Luật người nghèo của thế kỷ 17 ở Anh đã thành lập các trường học lao động và đào tạo nghề để giúp trẻ em nghèo trở nên độc lập.
Vào thế kỷ 19, khi giáo dục công hiện đại được thể chế hóa, mọi người được giáo dục cơ bản về đọc, viết và số học, và những người đã hoàn thành chương trình này được giáo dục nghề nghiệp dưới dạng giáo dục bổ túc hoặc trung học. Đặc biệt ở Đức, các trường bổ túc bắt buộc và trường dạy nghề đã phát triển, chủ yếu cung cấp giáo dục công nghiệp.