Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Một số nội dung về cơ sở lý luận của vấn đề đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 1. Các Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm việc làm, người lao động, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Khái niệm việc làm: Xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm việc làm.
Theo Tổ chức Lao động thế giới (ILO) khái niệm việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật [Lỗi! Không tìm thấy nguồn tham chiếu. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ XIII của các nhà thống kê lao động ILO Điều 09, chương II, Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019 đưa ra khái niệm “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm” [Lỗi! Không tìm thấy nguồn tham chiếu. Đồng thời quy định Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi các yếu tố: Thứ nhất, đó là hoạt động lao động của con người.
Con người dùng sức lao động tác động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàng hóa hoặc dịch vụ. Trong khái niệm việc làm, yếu tố lao động phải mang tính chất 8 thường xuyên, có tính hệ thống và chuyên môn hóa nên thường được gọi là nghề nghiệp hoặc ngành nghề nào đó. Thứ hai, là tạo ra thu nhập. Hoạt động lao động của con người phải tạo ra thu nhập cho người lao động để nuôi sống bản thân và gia đình người lao động và tái sản xuất sức lao động.
Mọi hoạt động không mang lại thu nhập cho người lao động thì không được gọi là việc làm (như hoạt động lao động từ thiện, lao động mang tính chất thể dục, giải trí…) Thứ ba, hoạt động lao động phải hợp pháp, loại hình hoạt động lao động phải được pháp luật cho phép. Tùy theo phong tục, tạp quán, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau mà pháp luật của mỗi nước quy định khác nhau về tính hợp pháp của hoạt động lao động được xác định là việc làm. Từ khái niệm việc làm dưới góc độ pháp lý được quy định trong Bộ Luật Lao động Việt Nam chúng ta thấy việc làm có ý nghĩa rất lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội. Về mặt kinh tế, việc làm càng nhiều thì càng tạo ra nhiều giá trị, hiệu quả sản xuất càng cao, kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại.
Về mặt xã hội, việc đảm bảo việc làm cho mọi người dân sẽ hạn chế các tiêu cực phát sinh như: tội phạm, tệ nạn xã hội. Ngoài ra, trên bình diện chính trị, hậu quả của vấn đề thất nghiệp, người dân không có việc làm dễ dẫn đến mất ổn định chính trị, đe dọa đến sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Do đó, ở bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ chế độ chính trị nào thì vấn đề tạo việc làm, chống thất nghiệp cho người dân luôn được nhà nước quan tâm hàng đầu. Khái niệm người lao động: Theo Điều 3, Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2019: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động” [Lỗi! Không tìm thấy nguồn tham chiếu.
Bộ Luật Lao động cũng quy định độ tuổi lao động của người lao động là đủ 15 9 tuổi, Bộ Luật cũng quy định thêm một số trường hợp lao động từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và người chưa đủ 13 tuổi. Trong phạm vi đề tài này, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là lao động đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và đến đủ 60 tuổi đối với nam. Khái niệm người Lao động được nêu tại Bộ Luật Lao động dựa trên cách tiếp cận và giải quyết mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, đối với người lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không có mối quan hệ với người sử dụng lao động, mà họ là hộ gia đình, cá nhân đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó (Theo khoản 30, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013).
Người lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp là người sử dụng sức lao động của mình tác động lên tư liệu sản xuất là đất nông nghiệp để tạo ra sản phẩm, họ bán, trao đổi sản phẩm làm ra để mang lại thu nhập. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu nghiên cứu đối tượng người lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp với khái niệm nêu trên. Khái niệm đào tạo nghề: Theo Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 được quy định tại Điều 3 thì đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp [Lỗi! Không tìm thấy nguồn tham chiếu. Hiện nay, nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đào tạo nghề cho người trong độ tuổi lao động, nhất là chính sách đào tạo nghề cho người lao động tại nông thôn, được lồng ghép trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Chính phủ (Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”).
Mục tiêu của công tác đào tạo nghề vừa nhằm xây dựng nông thôn mới, vừa để tái cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp. 10 Khái niệm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp: Giải quyết việc làm hay tạo việc làm cho người lao động nói chung là hoạt động kiến thiết cho người lao động có một việc làm cụ thể mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật ngăn cấm. Người tạo ra công việc cho người lao động có thể là nhà nước, mọi tổ chức hoạt động kinh tế và cá nhân. Ngoài ra, một số quan điểm khác còn cho rằng giải quyết việc làm còn bao gồm nội dung nâng cao chất lượng việc làm ngoài việc tạo ra việc làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế.
Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó trên cơ sở trực tiếp sản xuất nông nghiệp để tạo ra sản phẩm làm ra, mang lại thu nhập nhưng bị thu hồi đất nên họ không còn tư liệu sản xuất chủ yếu để sản xuất. Như vậy, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là hoạt động kiến thiết cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có một việc làm cụ thể để mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật ngăn cấm. Khái niệm và nội dung chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước. Thực hiện chính sách công bao gồm các bước sau: Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công.
Do quá trình thực hiện chính sách công rất phức tạp, diễn ra trong thời gian dài nên phải được lập kế hoạch để chủ động chuẩn bị chu đáo. Trong kế hoạch cần dự kiến các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách, 11 nhân sự, cơ chế trách nhiệm; kế hoạch cung cấp nguồn lực (tài chính, con người,…); xác định thời gian triển khai, các bước triển khai; lên kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách; dự kiến nội quy, quy chế tổ chức điều hành, trách nhiệm, quyền hạn, khen thưởng , kỷ luật,… Dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem xét thông qua. Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách công. Sau khi kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, trước tiên cần tuyên truyền vận động thực thi chính sách công, được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách công đang được thi hành, để mọi đối tượng được tuyên truyền luôn củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách.
Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách được thực hiện bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng xã hội. Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công. Chính sách công được thực thi trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương – vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách rất lớn. Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách.
Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách công một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách. Bước 4: Đôn đốc thực hiện chính sách công. Là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện chính sách, khi thực hiện chính sách, không phải một đơn vị nào cũng làm tốt làm nhanh như nhau, vì thế ta cần đôn đốc để chủ thể hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng chống những hành vi vi phạm trong thực thi chính sách công. 12 Bước 5: Tổng kết thực thi chính sách công.