Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ KIỂM SÁT VIÊN CỦA VIỆN KIỂM SÁT 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát 1. Khái niệm về đào tạo Đào tạo được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ xảo, thái độ.
để hoàn thiện nhân cách cho một cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả. Theo Từ điển Bách khoa, đào tạo là: Quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội. Duy trì và phát triển nền văn minh loài người, về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập ở nhà trường gắn với việc giáo dục đạo đức và nhân cách [33, tr. Đại Từ điển tiếng Việt ghi nhận: “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp: Đào tạo thành người có tri thức, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ” [6.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân tạo tiền đề để họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”[ 21]. Còn theo tác giả Trần Thị Bích Hà: “Đào tạo có thể hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức để hướng người học từng bước đạt được những mục tiêu giáo dục đã được xác định theo chuyên ngành”[27]. Theo các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam có sử dụng từ “đào tạo” cũng cho thấy các nội hàm khá rõ ràng trên cả trên bình diện cấu tạo từ và 6 Luan van cú pháp - ngữ nghĩa. Chẳng hạn: Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT,BD cán bộ, công chức đã đưa ra cách hiểu về ĐTBD như sau:“Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”[25].
Từ các quan niệm trên có thể hiểu “đào tạo” là quá trình trang bị kiến thức, sự hiểu biết, nghề nghiệp chuyên môn và kinh nghiệm cho một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng xã hội để họ có thể làm việc độc lập trong một môi trường xã hội nhất định. Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, tác động tới con người nhằm trang bị một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng thực hiện công việc theo một chương trình có mục tiêu nhất định, theo kế hoạch định sẵn của chủ thể đào tạo, nhằm làm hình thành và phát triển những tri thức hoặc kỹ năng thông qua giảng dạy, học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân con người cụ thể. Quá trình đào tạo nhất thiết phải được thực hiện bởi các cơ sở đào tạo như: Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Trường dạy nghề… Tuỳ theo từng cấp học, thời gian học tập và nội dung đào tạo của khoá học đó mà sau khi khoá học kết thúc, người học đạt được những tiêu chuẩn theo yêu cầu đã quy định và được cấp văn bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ tốt nghiệp phù hợp. Thông thường đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới hoặc ở trình độ cao hơn, nên thời gian đào tạo thường dài, khoá đào tạo ít nhất phải tương đương với một năm học trở lên.
Đào tạo còn có thể hiểu là một quá trình truyền thụ những kiến thức mới, cơ bản một cách có hệ thống để người cán bộ, công chức thông qua đó có kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao hơn trình độ trước đó. Ví dụ: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho KSV (đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ). Từ những luận giải nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm: Đào tạo là quá trình trang bị toàn diện tri thức và kỹ năng cho con người thông qua sự giảng dạy, học tập rèn luyện tích cực, chủ động của người đó. Khái niệm bồi dưỡng Theo Đại từ điển tiếng Việt, bồi dưỡng là: làm khoẻ thêm, mạnh thêm.
7 Luan van Làm cho tốt hơn, giỏi hơn[7, tr. Các quan niệm khác cho rằng: "Bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm”[8] và Bồi dưỡng là một quá trình hoàn thiện kỹ năng, năng lực của người lao động và đáp ứng được mục tiêu của tổ chức, của người sử dụng lao động, tạo thêm tiềm năng hiệu quả hoạt động của tổ chức, góp phần thiết thực cho việc hoàn thiện kỹ năng, kiến thức và chuyên môn có liên quan đến công vụ hiện tại. Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức cũng định nghĩa, “bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[25]. Như vậy, bồi dưỡng là công việc thường được tiến hành sau đào tạo hoặc có thể trong quá trình đào tạo, nhằm bổ sung kiến thức hoặc tăng thêm những kiến thức mới đòi hỏi với những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ của một ngạch bậc nhất định.
Đối với cán bộ, công chức, việc bồi dưỡng nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, đảm bảo cho họ có đủ phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực để làm tốt công việc được giao. Kết quả của các khoá bồi dưỡng là người học nhận được những chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận ghi nhận kết quả khóa bồi dưỡng. Ví dụ: Bồi dưỡng nghiệp vụ cho KSV trước khi được thi nâng ngạch; bồi dựỡng nghiệp vụ hành chính cho công chức nhà nước từ chuyên viên lên chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp hoặc bồi dưỡng công tác chuyên môn, bổi dưỡng chuyên đề khoa học, tập huấn nghiệp vụ. Nếu như đào tạo được hiểu là cả một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho con người có các tố chất mà trước đó con người không có; còn bồi dưỡng chỉ được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của con người.
Bồi dưỡng với mục đích chủ yếu là bổ sung kiến thức (cũng có thể là trang bị kiến thức mới, nhưng chỉ là một loại, nhóm kiến thức của các chuyên môn như: tin học, ngoại ngữ, dân số, môi trường.) hoặc chuyên sâu, cập nhật những vấn đề liên quan đến chức vụ cán bộ công chức đang đảm nhiệm. Vì vậy, bồi dưỡng 8 Luan van thường có thời gian ngắn hơn. Ngắn là một tuần, hai tuần, dài là một tháng, hai tháng. Học viên tham dự các khoá bồi dưỡng được xác nhận bởi các chứng chỉ.
Qua phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: Bồi dưỡng là việc bổ sung kiến thức mới hoặc làm hoàn thiện hơn kỹ năng cho người đang làm công việc trong những lĩnh vực nhất định để họ đạt được trình độ cao hơn hoặc đáp ứng tốt hơn các yêu cầu hay tiêu chuẩn của công việc đó. Đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát Viện kiểm sát là cơ quan chuyên kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật nhà nước[32, tr. KSV là một người được bổ nhiệm theo quy định pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp[32, tr. KSV thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Viện trưởng VKS, chỉ tuân theo pháp luật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng VKS cấp mình và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao.
KSV phải từ bỏ nhiệm vụ hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho thấy có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Theo Luật Tổ chức VKSND năm 2014, KSV là một người được bổ nhiệm theo quy định pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp[20]. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát; có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm KSV. KSV thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền VKS cấp mình theo sự phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, đội ngũ là tập hợp số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp[32, tr. Như vậy, đội ngũ KSV là tập hợp nhiều người 9 Luan van thành một lực lượng có cùng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, chung một nghề nghiệp, nghề Kiểm sát. Đội ngũ KSV của VKSND hiện nay gồm các ngạch KSV khác nhau, gồm: KSV VKSND tối cao; KSV cao cấp; KSV trung cấp; KSV sơ cấp và được bố trí ở các cấp kiểm sát như sau: Ở VKSND tối cao có thể được bố trí bốn ngạch KSV; ở VKS quân sự trung ương có Viện trưởng là KSV VKSND tối cao và có thể được bố trí các ngạch KSV cao cấp, trung cấp, sơ cấp; các VKS khác có thể được bố trí các ngạch KSV cao cấp, trung cấp, sơ cấp[18]. Việc đào tạo đội ngũ KSV của VKS là nhằm trang bị thêm về mặt lý luận, kiến thức pháp lý nâng cao, kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu, là cơ sở để họ đạt được ở trình độ chuyên môn cao hơn như đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ.
và việc bồi dưỡng được đặt ra đối với đội ngũ KSV trong ngành Kiểm sát, và được hiểu là hoạt động nhằm nâng cao, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ KSV.