chương 1 Nghị định 18/2010/NĐ-CP, có quy định: Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”; Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức”. Do không có quy định mới trong Nghị định thay thế là Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày ngày 01 tháng 09 năm 2017, khái niệm này vẫn được sử dụng như khái niệm chính thống về Bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức. Đào tạo và bồi dưỡng CBCC được xác định là các hoạt động có chung mục tiêu là: Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước”. Trong Nghị định 18/2010/NĐ-CP, hầu hết các vấn đề về nội dung, tổ chức thực hiện và quản lý đều được quy định chung, tuy nhiên, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP đã tách riêng các vấn đề với từng hoạt động đào tạo và bồi dưỡng.
Theo đó, Việc đào tạo cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo quy định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng quy hoạch nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị”; và gắn với đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học. Còn Bồi dưỡng gắn với các hình thức Tập sự; Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; Bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; Bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm (thời gian thực hiện tối thiểu là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết). Nội dung của Đào tạo đội ngũ CBCC - Đào tạo về lý luận chính trị; 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; - Đào tạo về kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; - Đào tạo về tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc. Quy trình Quá trình quản lý đào tạo cán bộ công chức tại Việt Nam thường được thực hiện theo các bước: H nh 1.1: uy tr nh đào tạo đội ngũ công chức Bước 1: ác định nhu cầu đào tạo Xác định nhu cầu đào tạo nhằm trả lời các câu hỏi chính như: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà CBCC hiện có? Những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của CBCC đối với vị trí công việc? Làm cách nào để xác định đúng những thiếu hụt đó? Những khóa học nào cần tổ chức để khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho CBCC? Để nắm bắt nhu cầu đào tạo cần sử dụng cần thực hiện các công việc sau: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phân tích tổ chức, kế hoạch hoạt động và kế hoạch phát triển đội ngũ công chức (Yêu cầu công việc) - Phân tích công việc và đánh giá thực hiện công việc (Thực tế thực hiện) - Xác định, dự kiến nhu cầu đào tạo dựa trên so sánh giữa yêu cầu công việc và thực tế thực hiện - Điều tra, khảo sát nhu cầu đào tạo (nhu cầu bắt buộc và tự nguyện) - Quyết định về nhu cầu đào tạo (Mục tiêu và nội dung đào tạo) Bước 2: ây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo Kế hoạch đào tạo đội ngũ công chức thường được thực hiện hàng năm hoặc theo các giai đoạn của chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH của quốc gia, của mỗi địa phương.
Kế hoạch cần bao gồm các nội dung sau: - Mục đích tổng thể - Nội dung và phân bổ thời gian - Mục tiêu cụ thể - Đơn vị đào tạo - Đối tượng học viên và tiêu - Người dạy chuẩn chọn tham gia đào tạo - Các kết quả cần đạt - Phương pháp đào tạo và các - Chi tiết chương trình hoạt động của học viên - Các hỗ trợ học tập Bước 3: Thực hiện kế hoạch đào tạo Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo cần trả lời các câu hỏi cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp để kết quả cao? Do đó, để thực hiện hiệu quả kế hoạch đào tạo, cần phân tích kế hoạch đào tạo thành các công việc cụ thể: từ ra quyết định tổ chức khóa học, triệu tập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán. Bước 4: Đánh giá đào tạo Việc đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng do cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức, cơ sở đào tạo thực hiện hoặc thuê cơ quan đánh giá độc lập. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đánh giá đào tạo cần trả lời các câu hỏi chính như: đào tạo có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình có phù hợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo không? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ áp dụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả của chương trình đào tạo? Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá chương trình đào tạo như sau: 1. Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về đào tạo vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá đào tạo và vào những thời điểm sau đào tạo.
Đánh giá kết quả học tập: Xem xem học viên đã tiếp thu những gsì từ khóa học. Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra. Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều đã học vào công việc như thế nào. Đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động, ảnh hưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của đào tạo như thế nào.
Tùy theo các cấp độ đánh giá mà người ta sử dụng các phương pháp đánh giá khác nhau để xem xem thực hiện quy trình đào tạo đạt kết quả đến đâu, hiệu quả như thế nào. Phát triển đội ngũ công chức Khái niệm Thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực” được cho là sử dụng đầu tiên bởi Leonard Nadler (1990). Tác giả nhận định, phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong một khoảng thời gian xác định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân” [67]. Cùng quan điểm như vậy, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2005), cho rằng phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển năng lực của con người để tiến tới có được việc làm và sự thỏa mãn nghề nghiệp cũng như cuộc sống cá nhân [66].
Theo cách hiểu này, phát triển nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở vấn đề đào tạo nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển mà còn đề cập ở khía cạnh phát 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển năng lực con người, ở việc sử dụng nguồn nhân lực ấy như thế nào để tiến tới có việc làm và sự thỏa mãn nghề nghiệp”, thỏa mãn cuộc sống cá nhân”. Tại Việt Nam, khái niệm phát triển nguồn nhân lực được nhiều nhà nghiên cứu đề cập một cách cụ thể hóa dưới cả góc độ con người và xã hội. Phát triển nguồn nhân lực xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng.lẫn thể chất. Nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo khía cạnh này như: Phạm Đức Thành và Mai Ọuốc Chánh (2001) trong Giáo trình Kinh tế lao động cho rằng: phát triển nguồn nhân lực được hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân người lao động được họ hoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ [42]; hay Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử.
Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm con người trưởng thành, có năng lực xã hội và tính năng động cao. Cũng với khái niệm trên, Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý [11]. Trong nhận định này, chất lượng nguồn nhân lực được hiểu bao gồm: (1) thể lực của nguồn nhân lực (thể chất và tinh thần); (2) trí lực của nguồn nhân lực (trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ năng của người lao động); (3) phẩm chất tâm lý xã hội (tính kỷ luật, tự giác, trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp. Nhận định này nhấn mạnh đến các hình 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức triển khai, cách thức thực hiện cùng với những giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Từ việc xem xét khái niệm phát triển nguồn nhân lực đối với các tổ chức nói chung trên đây, có thể thấy rằng, đối với hệ thống hành chính công của mỗi quốc gia, đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức chính là nguồn nhân lực của tổ chức. Vì vậy, phát triển đội ngũ công chức” chính là phát triển nguồn nhân lực của các tổ chức công.