Chương 1 LÝ LUẬN VE ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ VÀ NỘI DUNG ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ THỜI LÊ SƠ 1. Bồi cảnh thời Lê khi thiết lập Vương triều Trước nhà Hậu Lê, các chính quyền nhà nước Quân chủ phong kiến Việt Nam trước đó như Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ ra đời là sự kế thừa, chuyển giao chính quyển từ tập đoàn dong họ này, sang tập đoàn dòng họ khác (Lê Hoàn kế nghiệp họ Dinh, Ly Công Uan thay thế chính quyền của con cháu ho Tién Lê, nhà Tran thay thé nhà Lý, Hồ đoạt chính quyền từ dòng họ Tran suy yếu). Sự thay đổi các triéu đại nay là những cuộc “đảo chính cung đình” được tổ chức hoàn mỹ ít dé máu như nhà Lý chuyên giao sang Nhà Trần hoặc thanh toán nội bộ tàn bao, quyết liệt như Nhà Hồ tàn sát các tôn thất Nhà Trần. Trong hoản cảnh của xã hội phong kiến chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, các triểu đại này ít hay nhiều đều bị đư luận xã hội đương thời và thâm chi là ngay nay vẫn nhận xét, đánh giá là “cướp ngôi”, là “bất chính”.
Triều đại Nhà Lê được thành lập lại hoản toàn khác, đó là kết qua của công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nhà Minh lâu đài, gian khô suốt 10 năm (1417 — 1427), đây là cuộc khởi nghĩa, chiến tranh nhân dân sâu, rộng. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi (Lê Thái Tổ) lãnh đạo thắng lợi thiết lập triều đại mới — Triều đại Nhà Lê (gồm 02 thời ky là thời Lê Sơ và Lê Trung Hưng). Thời kỳ Lê sơ bắt đầu từ năm 1428 đến năm 1527, kế tiếp 1a thời kỳ Lê Trung Hưng từ năm 1533 đến năm 1789. Trong con mắt đương thời cũng như hậu thé, thời kỳ Lê sơ vẻ vang hon thời kỳ Lê Trung Hưng.
Vua Lê Thánh Tông luôn ý thức được được việc bảo toàn toàn vẹn lãnh thé và không ngừng mở rộng bờ cõi nước ta. Nhà vua đã kiên quyết, cứng rắn, trực tiếp trấn áp những cuộc nổi loạn, gây rối, ảnh hưởng, xâm hại đến lãnh thổ quốc gia hoặc dẹp bỏ những “điểm nóng” biên cương và mở mang 11 bờ cõi xuống phía nam. Do cũng là nguyên nhân sâu xa khiến trong suốt triều Lê sơ không ngừng tăng cường, triển khai nhiều chủ trương, biện pháp về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. một cách chủ động và đạt được nhiều thành tựu vẻ vang trong lịch sử dựng nước vả gitr nước.
Nghiên cứu một bộ luật cỗ của Việt Nam còn lưu giữ được đến ngay nay — Bộ Quốc triều Hình luật của nha Hậu Lê (Con được gọi là Bộ Luật Hồng Đức). Trước hết phái hiểu khái quát được bối cánh lịch sử, những đặc điểm co bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của thời kỳ Lê Sơ. Những kết quả nghiên cứu các nội dung này sẽ có cơ sở cho việc đánh giá, nhìn nhận những nội dung và các giá trị của Bộ Quốc triều Hình luật. Từ những đặc điểm về nền tảng chính trị, kinh tế văn hóa - xã hội của thời Lê sơ đã được các tư liệu lịch sử ghi chép lai.
Ở các khía cạnh chủ yếu đã được phân tích và minh chứng, đó là: - Thời kỳ Lê sơ được thành lập là thành quả trực tiếp của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống quân Minh (1417 — 1427). Nước Đại Việt chuyển từ trạng thái chiến tranh, loạn lạc sang hòa bình; Các tướng lĩnh, khai quốc công thần của cuộc kháng chiến chống quân Minh có vị trí đặc biệt quan trọng trong nửa đầu thế kỉ XV như Lê Lai, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Han, Nguyễn Xi. Trong gia đoạn này, đội ngũ quan lại xuất thân từ khoa ctr Nho giáo ngày càng chiếm số lượng đông đảo và được bé nhiệm vào những vi trí quan trong; - Trong triều đại nhà Hậu Lê tư tưởng Nho giáo hầu như thống trị trong các mặt của đời sống xã hội, cùng với tư tưởng pháp trị tạo nên thiết chế chính trị và quyển lực của nền quân chủ chuyên chế. - Nhà nước Lê sơ được xây dựng theo mô hình trung ương tập quyên va đạt mức độ chuyên chế cao vảo triều Lê Thánh Tông.
- Triều Lê sơ từng bước đi đến pháp điển hóa và hình sự hóa tối đa mọi quan hệ dân sự, kinh tế, chính trị, xã hội. 12 - Chính quyển ngày cảng quan liêu, xa dân; - Tiểu nông hoá nên nông nghiệp, nông thôn. Từ những phân tích về che đặc điểm nêu trên, thấy rằng thời kỳ Lê sơ mà tập trung là giai đoạn trị vì của Vua Lê Thánh Tông, thiết lập chế độ phong kiến tập quyền và nên chính thê nhà nước quân chủ chuyên chế đã đạt tới sự ổn định, ki cương va thịnh tri, được coi vào bậc nhất trong chế độ phong kiến Việt Nam. Các sử gia phong kiến hay hiện đại đều có chung một đánh giá về sự ổn định và thành tựu của nhiều lĩnh vực trong giai đoạn của vua Lê Thánh Tông, đặc biệt về lĩnh vực lập pháp và kỹ thuật lập pháp.
Lần đầu tiên xuất hiện trong các nhà nước phong kiến một đạo luật đồ sô, được kế thừa va phát trién không ngừng các thành tựu của kỹ thuật lập pháp phong kiến đó là Bộ Quốc triéu hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đúc). Quan niệm về đạo đức công vụ thời Lê sơ Triéu đại nhà Hậu Lê, đỉnh cao 1a thời Sơ kỳ (thời kỳ Lê So), thời gian Vua Lê Thánh Tông trị vì, một trong những vi vua triéu Lê So tại vị lâu nhất va được xem là vi vua tài năng, đức độ, có nhiều công lao thuộc hàng bậc nhất trong số các vị vua nước Việt. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đánh giá về Lê Thánh Tông như sau: “Vua sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất dai cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Dé nhà ool Han, Thái Tông nhà Đường cũng không thé hơn dugc”'. Nhà nước quan chủ phong kiến tập quyền được Vua Lê Thánh Tông xây dựng một bộ máy hành chính mạnh và thịnh tri.
Đồng thời Nhà vua đã sử dụng những biện pháp, cách làm, thể hiện quan điểm về xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyên với bộ máy hanh chinh-quan lại thống nhất từ trung ương xuống địa phương với vai trò, trách nhiệm, tiêu chuẩn của đội ngũ quan lại đối với thể chế mà ông đặt ra. Trong đó, với quan điểm quan lại phải đạt tiêu chuẩn 1 Đại Việt Sử ký Toàn thư (1993), Quyền XII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, trang 429 13 “Hiển — Tài” là hai điều kiện kép trong đạo đức công vụ của các quan lại mà theo quan niệm của vua Lê Thánh Tông là không thê thiếu đối với một chức quan dù ở trung ương hay địa phương, tủy vảo tai- đức mà bé nhiệm. Vua Lê Thánh Tông ý thức được vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ quan lại và nỗ lực chi đạo xây dựng đội ngũ quan lại trong suốt thời gian lam vua của mình cũng như mong muốn dé lại nên tang vững chắc cho đời sau. Vua Lê Thánh Tông chú trương lay Nho giáo làm cơ sở, nền tang tư tưởng bình ổn xã hội và thống trị thiên hạ, làm tiêu chuẩn dé củng có, xây dựng nên giáo dục, ông hiệu rằng: “Tram quan là nguồn gốc của trị, loạn”, “Một nước trị hay, hay do là do ở vua và quan giỏi hay đở.
Điều đó được thê hiện ở những chính sách và cố gắng xây dựng một triều đại phong kiến phát triển rực rỡ và điều hành đội ngũ quan lại phải lấy “chữ trung” làm trọng, trung Quân- ái Quốc là đức tính hàng dau của quan lại và từng bước xây dung, củng cố tính chuyên nghiệp trong thừa hành công vụ của hệ thông hành chính. Dưới triều Lê Thánh Tông đã có những chính sách cụ thê về xây dựng đội ngũ quan lại theo những tiêu chuẩn khắt khe vé đạo đức của người làm quan, nhất là về trách nhiệm công việc và lễ nghị. Vi dụ như: Các quan chỉ can chậm trễ thi hành chiếu, chỉ, sắc của Vua, néu chậm 01 ngày phạt 50 roi, đến cách chức hoặc phạt giam”; quan lại báo cáo sai sự thật khi di công cán (tâu không đúng sự thật) thì xử tội “biếm ” tức là giáng chức hay làm việc khổ sai, nếu vì thân tình hay trả thù hoặc nhận héi lộ tâu sai thi phạt thêm 02 bậc hình”. Về lễ nghi khắt khe đến mức khi các quan tâu việc mà nói lam không nói fâu mà lại nói thưa"không xưng là -than"ma lại xưng là t6i"thi xử phạt tiền 5 quan; trường hợp dang thư mà viết lầm thì xử phat 50 roi, xử tội giáng chức”.
Các quan làm việc ở nhiệm sở mà ngôi hoặc đứng không đúng phép bị xử tội ? Trần Trọng Kim, Nho giáo (quyễn thượng). Nhà xuất ban Bộ Giáo duc, Sài Gòn 1971, tr. 40-60 3 Xem Điều 119, Bộ Quốc triều hình luật, tldd * Xem Điều 120, Bộ Quốc triều hình luật, tldd ' Xem Điều 126, Bộ Quốc triều hình luật, tldd 14 giáng chức hoặc phat’. Nho sĩ Thân Nhân Trung đã từng viết: “Hién tai là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thé nước yếu rồi xuống thấp.
Vi vậy các dang Thánh dé minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quy chuộng kẻ sĩ không biết thé nào là cùng”. Lê Thánh Tông luôn quan niệm đã là quan lại phải đáp ứng được hai tiêu chuẩn kép là “hiền” và “tai”, đây là tư tưởng của Nho giáo vé đức độ của người quân tử nói chung, đã được vua Lê Thanh Tông cu thé hóa thành những yêu cầu bắt buộc đối với người lảm quan, cụ thể: - Hiền với ý nghĩa là tiêu chuẩn về đạo đức của người làm quan được thể hiện trên các tiêu chí như: (1) trung với vua, có thể khẳng định rằng các bậc quân, vương thời phong kiến rất coi trọng “chữ trung”, các quan lại phải hết lòng, hết sức vì vua, sẵn sảng hy sinh vì vua, vì xã tắc; (2) thương dân và chăm lo đến quyên lợi của dân (trách nhiệm trước dân); (3) thực thi công vụ phải có đạo đức trong sáng, không vụ lợi, tham nhũng (trách nhiệm trong thực thi công vụ).