Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Kiều Thị Phương Thanh thực hiện năm 2023 tại Trường Đại học Luật Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp luật dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phí Thị Thanh Tuyền.

Trong phần mở đầu, tác giả luận giải lý do lựa chọn đề tài dựa trên tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn quản lý xã hội. Đạo đức được xác định là một trong những nguồn của pháp luật; mọi hệ thống pháp luật đều ra đời, tồn tại và phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định. Quan niệm và chuẩn mực đạo đức đóng vai trò là tiền đề tư tưởng chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật, đồng thời ý thức đạo đức cá nhân là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện pháp luật. Tác giả dẫn chứng quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng, trong đó nhấn mạnh luận điểm: "Luật pháp dựa vào đạo đức, mặt khác luật pháp bảo vệ đạo đức". Tuy nhiên, văn bản chỉ ra rằng trong thực tiễn, không phải trong mọi trường hợp đạo đức đều được nhận thức đúng đắn như một công cụ hỗ trợ giải quyết vấn đề xã hội một cách triệt để, dẫn đến công tác xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật ở nước ta còn nhiều bất cập, hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là phân tích, xác định các phương diện ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay; từ đó tìm ra các giải pháp nhằm phát huy các ảnh hưởng tích cực và khắc phục các ảnh hưởng tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong thời gian tới.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Làm rõ những cơ sở lý luận về ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật, tập trung vào các khái niệm về đạo đức, thực hiện pháp luật, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, khái niệm, ý nghĩa và các phương diện ảnh hưởng.
  2. Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của đạo đức đối với thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của người dân trong thời gian tới.

Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào sự ảnh hưởng của đạo đức đến việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Về phạm vi nghiên cứu, không gian nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam; thời gian nghiên cứu khảo sát các dữ liệu và quy định thực tiễn từ năm 2013 cho đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp cận các hiện tượng xã hội thông qua quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong khoa học pháp lý bao gồm: phương pháp phân tích (làm sáng tỏ các phạm trù lý luận, đánh giá thực trạng và luận giải nguyên nhân), phương pháp lịch sử (nghiên cứu nguồn gốc và diễn tiến áp dụng đạo đức trong thực hiện pháp luật), phương pháp tổng hợp (khái quát hóa các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành) và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu việc áp dụng chuẩn mực đạo đức trong thực hiện pháp luật qua các giai đoạn).

Về mặt lý thuyết, tác giả tổng hợp khái niệm đạo đức từ cả phương diện triết học phương Đông (quan niệm "đạo làm người" trong Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, tư tưởng Lão Tử; nghiên cứu của Vũ Tình năm 1998) và phương Tây (gốc từ mos, morals trong tiếng Latinh, ethicos trong tiếng Hy Lạp; phân định giữa đạo đức và luân lý). Theo tác giả, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ giữa người với người và quan hệ với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh dư luận xã hội.

Đối với khái niệm thực hiện pháp luật, tác giả đối chiếu các định nghĩa từ Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật năm 2020 của Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình năm 2009 của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và công trình của PGS.TS. Nguyễn Thị Hồi (2009). Qua đó, khóa luận xác định bản chất thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp (hành động hoặc không hành động) có mục đích của các chủ thể có năng lực hành vi nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật. Hoạt động này được phân chia thành 04 hình thức cơ bản, được đối chiếu với các quy phạm đạo đức và dẫn chiếu quy định pháp luật thực tế:

Hình thức thực hiện pháp luật Bản chất pháp lý Biểu hiện tác động của đạo đức theo tác giả Dẫn chiếu quy định trong văn bản
Tuân thủ pháp luật Chủ thể kiềm chế, không tiến hành các hành vi mà pháp luật cấm. Đạo đức nâng cao tính tự giác, điều chỉnh động cơ nội tâm để không làm điều xấu, không xâm hại trật tự chung. Điều 22 Luật Giáo dục năm 2019 (cấm xúc phạm nhân phẩm, thân thể nhà giáo; cấm gian lận; cấm ép buộc đóng góp...).
Thi hành (chấp hành) pháp luật Chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng hành động tích cực, làm điều pháp luật bắt buộc. Đạo đức nhắc nhở bổn phận, trách nhiệm xã hội và tình cảm gắn kết cộng đồng thúc đẩy hành vi tích cực. Điều 82 Luật Giáo dục năm 2019 (nhiệm vụ học tập, rèn luyện); Khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (chăm sóc cha mẹ).
Sử dụng pháp luật Chủ thể thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép (được quyền lựa chọn làm hoặc không làm). Đạo đức giúp chủ thể kiềm chế lòng tham, không lạm dụng quyền hạn gây tổn hại cho người khác. Khoản 3 Điều 70 Luật Giáo dục năm 2019 (quyền thỉnh giảng, nghiên cứu khoa học của nhà giáo); quyền tự do kinh doanh.
Áp dụng pháp luật Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của chủ thể có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật. Đạo đức đóng vai trò là "tòa án lương tâm", giúp cân bằng giữa tính nghiêm minh của luật và tính nhân văn, thấu tình đạt lý. Điều 78 Luật Giáo dục năm 2019 (phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú); quy định xử phạt vi phạm giao thông.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận về sự ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật

Trong chương này, tác giả làm rõ bản chất mối quan hệ tương hỗ giữa đạo đức và pháp luật. Đạo đức và pháp luật có điểm tương đồng là đều hướng tới việc điều chỉnh hành vi con người, thiết lập trật tự xã hội và mang tính quy phạm phổ biến. Tuy nhiên, hai công cụ này có phương thức bảo đảm khác nhau: pháp luật bảo đảm bằng cưỡng chế nhà nước, còn đạo đức bảo đảm bằng lương tâm và áp lực dư luận xã hội.

Tác giả phân tích mối quan hệ tác động qua lại ở hai chiều:

  • Chiều tác động của đạo đức đến pháp luật: Đạo đức tác động đến việc hình thành các quy định pháp luật (thông qua ý thức đạo đức của nhà làm luật và các giá trị xã hội được thừa nhận) và tác động trực tiếp đến hành vi của chủ thể khi thực hiện pháp luật. Khi quy định pháp luật phù hợp chuẩn mực đạo đức, người dân sẽ tự giác tiếp nhận và thi hành.
  • Chiều tác động của pháp luật đến đạo đức: Pháp luật là công cụ thể chế hóa, truyền bá các chuẩn mực đạo đức tiến bộ của giai cấp thống trị; đồng thời bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống và bài trừ, loại bỏ những tập quán, tư tưởng lạc hậu, lỗi thời.

Về khái niệm ảnh hưởng, tác giả căn cứ Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học để xác định ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật là tác động của các quan niệm, tư tưởng đạo đức đến quá trình thực hiện pháp luật theo hướng thúc đẩy hoặc cản trở. Chương 1 chỉ rõ hai phương diện ảnh hưởng lý luận:

  • Phương diện tích cực: Đạo đức tốt đẹp thúc đẩy ý thức tuân thủ pháp luật, nhắc nhở thi hành đúng nghĩa vụ, giúp chủ thể thực hiện quyền đúng phạm vi pháp luật cho phép và giữ vai trò như "tòa án lương tâm" chỉ đạo các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật một cách công tâm.
  • Phương diện tiêu cực: Quan niệm đạo đức lạc hậu, phản tiến bộ định hướng hành vi sai lệch; hoặc nhận thức đạo đức đúng đắn nhưng áp dụng không phù hợp với hoàn cảnh khách quan dẫn tới vi phạm pháp luật.

Chương 2. Thực trạng ảnh hưởng của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 tập trung phân tích thực tiễn tác động của đạo đức đối với 04 hình thức thực hiện pháp luật tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023, phân định rõ mặt tích cực, mặt tiêu cực và chỉ ra nguyên nhân cụ thể:

Thực trạng ảnh hưởng tích cực và nguyên nhân:

  • Thúc đẩy tuân thủ và thi hành pháp luật: Các giá trị truyền thống như "thương người như thể thương thân", "lá lành đùm lá rách", đạo hiếu gia đình đã tạo nên lối sống gắn kết cộng đồng. Tác giả dẫn chứng quy định tại Khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ khi ốm đau, già yếu; người vi phạm không chỉ đối diện với chế tài pháp lý mà còn bị xã hội lên án, tẩy chay.
  • Sử dụng đúng quyền và hỗ trợ áp dụng pháp luật: Đạo đức giúp kiềm chế lòng tham, giảm thiểu tranh chấp dân sự. Tác giả nêu ví dụ về việc giải quyết tranh chấp tiếng ồn hát karaoke giữa hai cá nhân thông qua thỏa thuận đạo lý láng giềng thay vì khởi kiện ra tòa. Đối với hoạt động áp dụng pháp luật, dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của cán bộ, công chức, tác giả phân tích tình huống lực lượng cảnh sát giao thông khi xử lý lỗi vi phạm vượt đèn đỏ (mức phạt 800.000 - 1.000.000 đồng) và không đội mũ bảo hiểm (400.000 - 600.000 đồng; tổng hợp phạt từ 1.200.000 - 1.600.000 đồng theo quy định) đối với người đang trong tình trạng cấp cứu, nguy kịch sức khỏe: tinh thần nhân đạo cho phép người có thẩm quyền nhắc nhở, hỗ trợ hoặc xử lý linh hoạt thấu tình đạt lý.
  • Nguyên nhân tích cực: Bắt nguồn từ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước; sự phối hợp của chính quyền cơ sở trong tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật bám sát thực tiễn; các phẩm chất đạo đức truyền thống dân tộc; việc tuyển dụng và rèn luyện đội ngũ cán bộ công chức; cùng với quá trình giao lưu hội nhập quốc tế giúp tiếp thu các chuẩn mực tiến bộ.

Thực trạng ảnh hưởng tiêu cực và nguyên nhân:

  • Sự chi phối của tư tưởng đạo đức lạc hậu: Tư tưởng gia trưởng, tính cục bộ địa phương, chủ nghĩa cá nhân, tư duy "vinh thân phì gia" làm suy yếu nguyên tắc tập trung dân chủ trong một bộ phận cán bộ. Quan niệm "trọng nam khinh nữ" dẫn đến áp lực sinh con trai, phá vỡ cân bằng giới tính khi sinh và phát sinh bạo lực gia đình. Thói quen giao dịch dân sự bằng miệng, không lập văn bản giấy tờ dựa trên sự tin tưởng cảm tính gây ra tranh chấp tài sản phức tạp, thiếu chứng cứ giải quyết. Hiện tượng tảo hôn do nhận thức sai lệch về tình yêu và hôn nhân, bất chấp quy định về độ tuổi kết hôn (nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi). Ngoài ra, thói cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ có chức quyền dẫn đến áp dụng pháp luật sai lệch, phân biệt đối xử theo lượng tiền "vòi vĩnh".
  • Áp dụng đạo đức không phù hợp dẫn đến hành vi vi phạm: Tình trạng vì chữ "hiếu" mà bao che, không tố giác hành vi phạm tội nghiêm trọng (như giết người, cướp của) của người thân; hoặc vì bảo vệ con cái mà cha mẹ sẵn sàng sử dụng bạo lực để trả thù người khác, vi phạm quy định pháp luật về tính mạng, sức khỏe.

Chương 3. Giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và nguyên nhân ở Chương 2, tác giả đề xuất hệ thống 07 nhóm giải pháp đồng bộ tại Chương 3 (từ mục 3.1 đến 3.7 theo kết cấu mục lục văn bản):

  1. Nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, người có thẩm quyền về việc thực hiện pháp luật: Tăng cường giáo dục chính trị, bồi dưỡng đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức, bảo đảm việc ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính, tư pháp đúng thẩm quyền, khách quan.
  2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đạo đức và pháp luật cho người dân: Đổi mới nội dung, hình thức phổ biến giáo dục pháp luật gắn liền với chuẩn mực đạo đức xã hội phù hợp với từng nhóm đối tượng dân cư.
  3. Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức: Phát huy vai trò giám sát của nhân dân và cơ quan báo chí; kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng.
  4. Kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp và loại bỏ, bài trừ các quan niệm, chuẩn mực đạo đức lạc hậu, lỗi thời: Đấu tranh xóa bỏ tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ, thói quen giao dịch thiếu bảo đảm pháp lý; phát huy tinh thần tương thân tương ái, tính trung thực và trách nhiệm công dân.
  5. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dựa trên nền tảng các chuẩn mực đạo đức xã hội: Thể chế hóa kịp thời các quy tắc đạo đức tiến bộ thành quy phạm pháp luật, loại bỏ các kẽ hở pháp lý để ngăn chặn việc lợi dụng kẽ hở trục lợi.
  6. Tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật: Nâng cao tính tự giác của các chủ thể xã hội thông qua sự kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế; tạo lập môi trường xã hội thượng tôn pháp luật.
  7. Giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội: Nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và trình độ dân trí của nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để thực thi pháp luật và bảo đảm an sinh xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và việc thực hiện pháp luật dưới góc độ khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Công trình đã đối chiếu trực tiếp các hình thức thực hiện pháp luật với các quy định pháp luật thực định (Luật Giáo dục 2019, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, các khung chế tài xử phạt giao thông đường bộ) nhằm minh chứng cụ thể cho sự can thiệp của ý thức đạo đức vào hành vi pháp lý.

Về mặt đóng góp học thuật, tác giả chỉ ra sự khác biệt và bước phát triển so với các công trình nghiên cứu đi trước:

  • Luận án của TS. Nguyễn Văn Năm tập trung vào "Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay", chủ yếu phân tích lý luận chung về vai trò của pháp luật và đạo đức cũng như giải pháp kết hợp hai công cụ này ở tầm vĩ mô.
  • Bài viết của TS. Ngô Thị Hường trên Tạp chí Luật học (số 03/2013) giới hạn phạm vi nghiên cứu ở tác động của đạo đức đối với quan hệ gia đình và pháp luật hôn nhân - gia đình.
  • Bài viết của PGS.TS. Hoàng Thị Kim Quế trên Tạp chí Luật học (số 07/2006) bàn về những vấn đề đương đại của pháp luật và đạo đức ở mức độ khái quát.

So với các công trình trên, khóa luận của Kiều Thị Phương Thanh đã đi sâu khảo sát chuyên biệt vào cơ chế tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) của đạo đức đến từng hình thức thực hiện pháp luật cụ thể (tuân thủ, thi hành, sử dụng, áp dụng pháp luật) trong bối cảnh từ năm 2013 đến 2023, từ đó đề xuất hệ thống 07 nhóm giải pháp toàn diện bao quát cả nhận thức, hoàn thiện thể chế và điều kiện kinh tế - xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản giới hạn phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023. Tiếp cận của khóa luận chủ yếu dựa trên phương pháp lý luận, phân tích tổng hợp các văn bản pháp luật và dẫn chứng các vụ việc thực tiễn điển hình có tính chất định tính, chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học pháp lý với mẫu khảo sát diện rộng về mức độ nhận thức đạo đức của các nhóm đối tượng cụ thể.

Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở các luận điểm mở ra từ khóa luận, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực nghiệm định lượng về sự xung đột giữa chuẩn mực đạo đức vùng miền/tập quán dân tộc thiểu số với việc áp dụng các bộ luật chuyên ngành cụ thể (như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự), hoặc đánh giá sâu hơn tác động của đạo đức công vụ trong chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính hiện nay.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Triết học, Xã hội học pháp luật và các ngành khoa học pháp lý liên quan khi tìm hiểu về cơ chế điều chỉnh của các quy phạm xã hội ngoài pháp luật.

Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình nằm ở Mục 1.4 và Mục 2.1, nơi tác giả phân tích sự giao thoa giữa các chuẩn mực đạo đức với 04 hình thức thực hiện pháp luật cụ thể, đi kèm các dẫn chứng pháp luật thực định minh họa rõ nét cơ chế chuyển hóa từ ý thức đạo đức sang hành vi pháp lý của cá nhân và người có thẩm quyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân chia việc thực hiện pháp luật thành những hình thức nào và đạo đức can thiệp vào các hình thức đó ra sao?
Khóa luận chia việc thực hiện pháp luật thành 04 hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Đạo đức can thiệp bằng cách thúc đẩy sự tự giác kiềm chế hành vi cấm (tuân thủ), nâng cao ý thức làm tròn nghĩa vụ bắt buộc (thi hành), định hướng sử dụng quyền đúng mục đích và kiềm chế lòng tham (sử dụng), đồng thời đóng vai trò "tòa án lương tâm" giúp người có thẩm quyền ra quyết định công tâm, nhân văn (áp dụng).

2. Tác giả dẫn chứng những văn bản pháp luật cụ thể nào để chứng minh ảnh hưởng của đạo đức đến việc thực hiện pháp luật?
Văn bản dẫn chứng cụ thể các điều khoản: Điều 22, Điều 78, Điều 82 và Khoản 3 Điều 70 Luật Giáo dục năm 2019; Khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; cùng các quy định hành chính về xử phạt vi phạm nồng độ cồn, không đội mũ bảo hiểm (phạt từ 400.000 - 600.000 đồng) và vượt đèn đỏ (phạt từ 800.000 - 1.000.000 đồng).

3. Biểu hiện tiêu cực nào của tư tưởng đạo đức truyền thống được tác giả chỉ ra là cản trở việc thực hiện pháp luật?
Văn bản chỉ ra các biểu hiện tiêu cực gồm: tư tưởng gia trưởng, tính cục bộ, chủ nghĩa cá nhân; tư tưởng "trọng nam khinh nữ" gây mất cân bằng giới tính và vi phạm quyền bình đẳng; quan niệm kết hôn sớm/tảo hôn bất chấp độ tuổi luật định (nam đủ 20, nữ đủ 18); thói quen giao dịch dân sự bằng miệng dựa trên tình cảm gây mất an toàn pháp lý; và thói cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh của một số cán bộ khi áp dụng pháp luật.

4. Vì sao nhận thức đạo đức đúng đắn vẫn có thể dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật theo lập luận của tác giả?
Theo tác giả, thói quen xử sự nặng về tình cảm có thể khiến chủ thể quá sa đà vào chuẩn mực đạo đức mà vi phạm pháp luật. Ví dụ: vì chữ "hiếu" mà che giấu tội phạm giết người, cướp của do cha mẹ gây ra; hoặc vì tình thương con mà cha mẹ sử dụng bạo lực để tấn công người làm tổn hại con mình, vi phạm quy định về bảo vệ tính mạng, sức khỏe.

5. Tác giả đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp tại Chương 3 để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật?
Tác giả đề xuất 07 nhóm giải pháp, bao gồm: nâng cao năng lực và đạo đức của người có thẩm quyền; đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm; bài trừ các quan niệm đạo đức lạc hậu và phát huy giá trị tốt đẹp; hoàn thiện hệ thống pháp luật dựa trên chuẩn mực đạo đức; tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật; và đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Kiều Thị Phương Thanh đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng ảnh hưởng hai chiều của đạo đức đối với việc thực hiện pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2023. Thông qua việc phân tích 04 hình thức thực hiện pháp luật gắn liền với quy định thực định và dẫn chứng thực tế, tác giả khẳng định đạo đức vừa là nền tảng thúc đẩy, vừa có thể là rào cản nếu áp dụng sai lệch. Hệ thống 07 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở hữu ích cho việc kết hợp hài hòa giữa giáo dục đạo đức và cưỡng chế pháp lý trong công tác quản lý xã hội hiện nay.