MỞ ĐẦU Ngày nay, nhiều công việc nâng nhấc, vận chuyển các vật nặng đã đƣợc cơ giới hóa nhờ sự trợ giúp của máy móc thiết bị chuyên dụng. Tuy nhiên, vẫn không thể tránh khỏi việc nâng nhấc bằng tay ở nhiều công đoạn trong hầu hết các ngành sản xuất. Việc nâng nhấc bằng tay các nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm trong sản xuất vẫn diễn khá phổ biến trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Nâng nhấc, vận chuyển các vật nặng quá sức mình hoặc tƣ thế nâng nhấc không đúng có thể dẫn đến tai nạn, làm chấn thƣơng cơ, gân, khớp và thần kinh vận động.
Khi thƣờng xuyên nâng nhấc thủ công, ngƣời lao động còn phải đối diện với những tổn thƣơng ở cơ, gân, thần kinh và các tổ chức nâng đỡ liên đốt sống tích lũy theo thời gian, gây nên hội chứng rối loạn cơ xƣơng (RLCX). Trƣớc thực trạng RLCX do nghề nghiệp nói chung và tổn thƣơng thắt lƣng nói riêng khá cao và cao nhất trong số các tổn thƣơng nghề nghiệp. Nhiều nghiên cứu đánh giá mức độ nguy cơ đối với lƣng trong các hoạt động lao động nâng nhấc vật bằng tay ở các ngành công nghiệp khác nhau đã đƣợc các nhà khoa học ở nhiều nƣớc quan tâm nghiên cứu. Kết quả của các công trình nghiên cứu là cơ sở để xây dựng các tiêu chuẩn giới hạn nâng nhấc, hƣớng dẫn thực hành lao động đối với nâng nhấc thủ công, thực hành áp dụng các biện pháp bảo vệ… Ở Việt Nam, chƣa có công trình nghiên cứu nào về mối liên quan giữa đau mỏi lƣng với nâng nhấc vật nặng, chỉ có các điều tra, phỏng vấn đƣa ra tỷ lệ đau mỏi cơ xƣơng khớp trong đó có thắt lƣng ở các công việc khác nhau.
Một số nghiên cứu đã kết hợp với phân tích tƣ thế, thao tác trong lao động rồi đề xuất, kiến nghị các biện pháp dự phòng. Chúng ta còn thiếu các công trình nghiên cứu, định lƣợng mức độ nguy cơ đối với cơ lƣng và cột sống của ngƣời lao động khi thực hiện các hoạt động nâng nhấc thủ công qua giám sát sự vận động của cột sống và sự thay đổi về điện cơ của các nhóm cơ lƣng tham gia trong quá trình nâng nhấc. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để đáp ứng yêu cầu này, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá sự vận động của cơ lƣng và cột sống ở ngƣời lao động khi nâng nhấc vật nặng bằng tay” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đƣợc đặc điểm lao động nâng nhấc và tình trạng đau mỏi cơ xƣơng khớp và thắt lƣng của ngƣời lao động tại một số công đoạn trong sản xuất gạch tuynel, gạch granit và sứ vệ sinh.
Phân tích đánh giá mức độ nguy cơ đối với cột sống và các cơ lƣng khi ngƣời công nhân thực hiện các thao tác nâng nhấc vật tại một số công đoạn trong sản xuất gạch tuynel, gạch granit và sứ vệ sinh. Các số liệu trong luận văn này đƣợc trích một phần từ đề tài 209/10/TLĐ do PGS. Nguyễn Đức Hồng – Trung tâm Khoa học Con ngƣời và Sức khỏe Lao động, Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động làm chủ nhiệm. Tác giả luận văn đã trực tiếp tham gia thực hiện và đƣợc chủ nhiệm đề tài đồng ý cho phép sử dụng một phần số liệu của nghiên cứu cho luận văn.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ NÉT VỀ GIẢI PHẪU-SINH LÝ CỘT SỐNG THẮT LƢNG 1.Vài nét tổng quát về cột sống Cột sống (columna vertebradis) của con ngƣời là trục trung tâm của cơ thể, thuộc bộ xƣơng trục (skeleton axiale) bao gồm nhiều đốt sống tiếp khớp với nhau, giúp cho thân mình vận động dễ dàng và nhịp nhàng. Cột sống bao bọc và bảo vệ cho tủy sống - một phần của thần kinh trung ƣơng. Ở ngƣời, cột sống còn có tác dụng phần nào nâng đỡ trọng lƣợng của cơ thể và truyền sức nặng cơ thể xuống hai chân [16].
Ở nữ giới, cột sống dài khoảng 60cm; ở nam giới, cột sống dài hơn, khoảng 70cm. Cột sống nằm chính giữa thành sau của thân, chạy dài từ mặt dƣới xƣơng chẩm và tận hết bởi xƣơng cụt, gồm 33-34 đốt sống, chia làm 5 đoạn (Hình 1. Cột sống - Đoạn sống cổ (vertebrae cervicales) gồm 7 đốt (C1-C7) tạo nên một đoạn cột sống dài khoảng 12cm cong lõm ra sau. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đoạn sống ngực (vertebrae thoracicae) gồm 12 đốt (T1-T12) tạo thành một đoạn cột sống dài khoảng 28cm cong lõm ra trƣớc.
- Đoạn sống thắt lƣng (vertebrae lumbales) gồm 5 đốt (L1-L5) tạo thành một đoạn cột sống dài khoảng 18cm cong lõm ra sau. - Xƣơng cùng (os sacrum) gồm 5 đốt (S1-S5) dính với nhau thành một khối. - Xƣơng cụt (os coccygis) gồm từ 4-5 đốt dính với nhau tạo thành một khối xƣơng. Đoạn cùng cụt bắt đầu từ khớp thắt lƣng cùng tới đỉnh xƣơng cụt dài khoảng 12cm cong lõm xuống dƣới và ra trƣớc.
Các đốt sống có những tính chất chung giống nhau và những đặc tính riêng biệt cho từng loại đốt sống. Bốn đoạn cong sinh lý của cột sống đảm bảo cho cột sống hoạt động đƣợc mềm dẻo, uyển chuyển và trọng tâm cơ thể rơi đúng mặt chân đế giúp cho con ngƣời vững vàng trong tƣ thế đứng thẳng. Nhìn chung, cột sống đƣợc chia làm hai phần: - Phần trên gồm 24 đốt sống thuộc các đoạn cổ, ngực, thắt lƣng xếp chồng lên nhau, cử động khá dễ dàng, trong đó đoạn cổ và thắt lƣng là linh hoạt nhất. - Phần dƣới gồm các đốt sống thuộc đoạn cùng, cụt dính lại với nhau, ít hoặc không cử động đƣợc.
Một số nét về đặc điểm giải phẫu-sinh lý cột sống thắt lƣng * Đặc điểm các đốt sống thắt lƣng Do phải chống đỡ toàn thân và cần chuyển động nhiều nên các đốt sống thắt lƣng có các đặc điểm sau (Hình 1. - Thân rất to, rộng chiều ngang hơn chiều trƣớc sau. - Lỗ đốt sống hình tam giác, rộng hơn lỗ đốt sống của các đốt sống ngực nhƣng nhỏ hơn lỗ đốt sống cổ. - Cuống ngắn nhƣng rất dày và dính vào thân đốt sống ở 3/5 trên.
Khuyết đốt sống dƣới sâu hơn khuyết đốt sống trên. - Cung đốt sống có chiều cao hơn chiều rộng. - Mỏm gai hình chữ nhật, chạy ngang ra sau. - Mặt khớp của mỏm khớp trên hơi lõm hƣớng vào trong, ra sau.
Trên bờ sau của mỏm xƣơng nhô lên tạo nên mỏm vú (processus mammilaris). Mỏm khớp dƣới có mặt khớp hơi lồi, nhìn ra ngoài và ra trƣớc. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Mỏm ngang dài và mỏng đƣợc coi nhƣ xƣơng sƣờn thoái hóa. Trên mặt sau mỏm ngang có một lồi củ gọi là mỏm phụ (processus accesorius).
* Đặc điểm của lỗ liên đốt sống (lỗ gian liên đốt) Ở cột sống đoa ̣n thắt lƣng, sự liên quan về vị trí các đĩa đệm và các lỗ liên đốt với dễ thần kinh tủy sống có vai trò đặc biệt quan trọng. Nói chung, các lỗ liên đốt sống này nằm ngang mức với các đĩa đệm. Cỡ của các rễ thần kinh vùng cột sống thắt lƣng lớn dần từ trên xuống dƣới và rễ L5 lớn nhất. Bình thƣờng đƣờng kính của lỗ liên đốt sống to gấp 5-6 lần đƣờng kính của rễ thần kinh chui qua lỗ.
Các tƣ thế duỗi cột sống và nghiêng về hai bên làm giảm đƣờng kính lỗ. Khi đĩa đệm bị lồi hoặc thoát vị về phía bên sẽ làm hẹp lỗ liên đốt, chèn ép vào rễ thần kinh gây đau. Riêng lỗ liên đốt thắt lƣng cùng là đặc biệt nhỏ do tƣ thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang. Vì vậy, những biến đổi ở diện khớp và tƣ thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ liên đốt.
Các đốt sống thắt lƣng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Các khớp ở vùng cột sống đoa ̣n thắt lƣng Các khớp ở vùng cột sống đoa ̣n thắt lƣng gồm: các khớp giữa các thân đốt sống (symphysis intervertebralis), khớp giữa các mỏm khớp của đốt sống (articulationes zygapophysiales), khớp thắt lƣng cùng (articulatio lumbosacralis). Khớp giữa thân các đốt sống là khớp quan trọng nhất và có nhiều ý nghĩa hơn cả. Khớp giữa thân các đốt sống là một khớp bán động sụn. Diện khớp là mặt trên và mặt dƣới của thân hai đốt sống kề nhau.
Vì hai mặt này lõm nên giữa hai mặt khớp có đĩa gian đốt sống. Đĩa gian đốt sống (discus intervertebralis) còn gọi là đĩa đệm cấu tạo bằng sơ sụn có hình thấu kính hai mặt lồi tƣơng ứng với các mặt lõm của thân các đốt sống. Độ dày của đĩa tùy thuộc vào từng vùng của cột sống cũng nhƣ từng phần của đĩa (Hình 1. Đĩa gian đốt sống thắt lƣng dày nhất.
Ở đoạn cột sống thắt lƣng, phần đĩa trƣớc dày hơn phần sau, góp phần làm cho cột sống thắt lƣng lồi ra trƣớc. Có tất cả 23 đĩa nằm chen giữa thân các đốt sống từ C1 tới S1. Mỗi đĩa đệm gồm có hai phần: phần chu vi gọi là vòng sợi (anulus fibrosus) đƣợc cấu tạo bởi những vòng sơ sụn đồng tâm và rất đàn hồi; phần trung tâm gọi là nhân nhầy/tủy (nucleus pulposus). Nhân nhầy đƣợc cấu tạo bởi một chất rất đàn hồi và có thể di chuyển trong vòng sợi tùy theo vị trí của các đốt sống.
Thƣờng thì nhân nhầy nằm gần bờ sau hơn bờ trƣớc của đĩa gian đốt. Ở tƣ thế nghỉ, khi có áp lực ép lên cột sống, đĩa đệm phản ứng lại bằng sự căng của các vòng sợi và sự tăng áp lực trong nhân nhầy. Khi cột sống vận động về một phía (gấp, duỗi, nghiêng…) thì nhân nhầy chuyển về phía đối diện, đồng thời vòng sợi cũng bị giãn ra. Trong động tác xoay cột sống một cách quá mức hay đột ngột, các vòng sợi ở phía trực tiếp sẽ bị căng ra, trong khi các vòng sợi ở bên đối diện sẽ chun lại.
Những mô hình toán học dựa trên mô phỏng của đĩa đệm vùng thắt lƣng đã mô tả rằng, sự xoắn vặn sẽ gây sang chấn tập trung ở những vòng sợi bên, làm rạn nứt các vòng sợi, đây là vị trí dễ bị thoát vị đĩa đệm [1]. Khi gấp mạnh thân ngƣời ra phía trƣớc có thể gây thoát vị đĩa đệm ra sau đẩy lồi vào trong ống sống. Nhƣ vậy, đĩa đệm tham gia vào vận động của cột sống bằng khả năng biến dạng và tính chịu ép của nó, kết hợp với khả năng chuyển trƣợt của các khớp đốt 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sống đã tạo nên cho cột sống có một trƣờng vận động nhất định [26].