Chương 1 giới thiệu bối cảnh của vấn đề nghiên cứu và các vấn đề chính sách. Chương 2 bao gồm cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Chương 3 đánh giá vai trò của QHĐT ở tỉnh An Giang. Chương 4 phân tích định lượng về một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi các loại QHĐT ở An Giang.
Chương cuối cùng là phần kết luận và đưa ra những kiến nghị chính sách. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn tập trung nghiên cứu phân tích chính sách về vai trò thực sự và những trục trặc hiện nay của QHĐT ở tỉnh An Giang. Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các đồ án quy hoạch đang được triển khai thực hiện tại Sở XD. Những yếu tố chính dùng để phân tích định lượng là các nội dung của QHĐT đang được Sở XD An Giang quan tâm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Quy hoạch đô thị, các cách tiếp cận và loại hình quy hoạch Theo cách tiếp cận kinh tế học, can thiệp của nhà nước là cần thiết khi xảy ra các thất bại thị trường (Stiglitz 1995). Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh v ực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đ ẩy sự phát triển KTXH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của TP; nội thị, ngoại thị của TX, TT. Việc hình thành đô thị là do lợi thế tích tụ hay một dạng của lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
Tuy nhiên, việc tập trung đông người cũng t ạo ra những ngoại tác tiêu cực như tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường (Glaeser 2010). Do vậy, nhà nước cần can thiệp vào quá trình hình thành và phát triển đô thị, trong đó công cụ phổ biến nhất là QHĐT. Theo Peter Hall (2002), quy hoạch được hiểu là sự sắp xếp các phần việc để đạt được một mục tiêu nào đó: dự định, dự kiến, dự trù, kế hoạch, phương kế. Nghĩa này khôn g quy về nghệ thuật đồ họa các mặt bằng, mô hình không gian hay bản thiết kế trên giấy vẽ.
Chúng có nghĩa ho ặc là sắp xếp các bộ phận hoặc thực hiện hành động mong muốn. Nghĩa chung nhất của quy hoạch bao hàm ý quy hoạch có liên quan tới việc hoàn thành một cách có chủ tâm một mục tiêu nào đó và điều đó được tiến hành bằng cách tập hợp các hành động lại thành một chuỗi có trật tự của các hành động12. Taylor (1998) đã đ ịnh nghĩa QHĐT rõ ràng và cụ thể hơn: “QHĐT là một quá trình kỹ thuật và chính trị nhằm giải quyết vấn đề kiểm soát việc sử dụng đất và thiết kế môi trường đô thị, bao gồm cả mạng lưới giao thông vận tải, để hướng dẫn và đảm bảo sự phát triển có trật tự các khu định cư và cộng đồng dân cư.” Đây là những cách định nghĩa và ti ếp cận phổ biến về QHĐT trên trên thế giới hiện nay. Đối với Việt Nam, Luật QHĐT 2009 đã đ ịnh nghĩa: “ QHĐT là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án QHĐT… quy hoạch xây dựng là việc tổ chức hoặc định hướng 12 Trương Quang Thao (2007).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- tổ chức không gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ đó, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển KTXH, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.” Nghị định 08/2005/NĐ-CP cũng định nghĩa cụ thể hơn về QHĐT: “QHĐT là việc tổ chức không gian kiến trúc và bố trí công trình trên một khu vực lãnh thổ trong từng thời kỳ, làm cơ sở pháp lý cho việc chuẩn bị đầu tư xây dựng, quản lý xây dựng và phát triển KTXH.” QHĐT gồm các loại hình quy hoạch sau: (i) quy hoạch chung hay quy hoạch tổng thể phát triển đô thị; (ii) quy hoạch phân khu chức năng trước đây thường gọi là quy hoạch 1/2000; (iii) quy hoạch chi tiết 1/500. Như vậy, cách tiếp cận và cách hiểu theo các quy định về QHĐT và quy hoạch xây dựng ở Việt Nam nói chung là tương đồng với cách hiểu phổ biến trên thế giới. Đây cũng là cách ti ếp cận được sử dụng cho luận văn này. Những trục trặc liên quan đến công tác quy hoạch đô thị ở Việt Nam Trong một đánh giá về công tác QHĐT, Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM đã nh ận xét như sau: Nhìn từ góc độ phương pháp, lý luận và thực tiễn, QHĐT ở Việt Nam đi lên từ nền kinh tế tập trung, do đó còn m ột số tồn tại như sau: sản phẩm quy hoạch nhanh chóng bị lạc hậu trước những thay đổi liên tục của thực tiễn, cách tiếp cận còn nặng từ trên xuống, mang tính áp đặt nên làm cho quy hoạch thiếu linh hoạt và hạn chế khả năng phát huy mọi nguồn lực trong xã hội, sự phối hợp liên ngành vẫn còn rất hạn chế, dẫn đến sự chồng chéo với các quy hoạch ngành, tụt hậu về mặt phương pháp luận trong bối cảnh toàn cầu hóa.13 PADDI (2012) đã ch ỉ ra rằng có độ vênh giữa QHĐT và những gì đã và đang di ễn ra trên thực tế theo các yếu tố gồm: i) Quy mô dân số theo quy hoạch và trong thực tế; ii) Chủ đầu tư không tuân thủ giấy phép xây dựng và xây dựng sai phép trên thực tế; iii) Không tuân thủ quy hoạch ban đầu (đối với các dự án lớn) và không xây dựng cơ sở hạ tầng đã quy hoạch (không mở rộng các tuyến đường như đã dự kiến trong QHĐT,.); iv) Cơ sở hạ tầng trong quy hoạch khác với cơ sở hạ tầng thực hiện trên thực tế.
Hơn thế, nhiều vấn đề trên thực tế chưa được quan tâm đầy đủ và đúng mức trong quy hoạch gồm: i) Phần hiện trạng trong quy hoạch thường không được lấy từ kết quả khảo sát chi 13 Trích từ PADDI (2012) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- tiết trên thực địa; ii) Hệ thống quy hoạch tương đối phức tạp; iii) quy hoạch vẫn còn nặng tính chỉ tiêu kể cả sau khi thực hiện chính sách đổi mới và áp dụng cơ chế thị trường đối với thị trường bất động sản: ví dụ, các dự báo dân số (cho 10 năm hoặc 15 năm) theo quy hoạch thường khác với thực tế; iv) Đôi khi các quyết định đưa ra tùy theo từng sự vụ cụ thể vì thiếu chiến lược và ưu tiên; v) Thiếu điều phối, phối hợp giữa các đơn vị của nhà nước với nhau, giữa các đơn vị của tỉnh với huyện và giữa nhà nước với khu vực tư nhân14. Trong đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (2011) đã chỉ ra rằng hệ thống QHĐT ở Việt Nam có hai lĩnh vực cơ bản cần tăng cường. Thứ nhất, cách tiếp cận quy hoạch tổng thể hiện nay của Việt Nam không dựa trên kiểm chứng thực tế - và có thể cần cải tiến nhiều để thể hiện chính xác hơn những khía cạnh và vị trí có nhu cầu, cũng như ph ản ánh rõ hơn các ngu ồn lực thị trường. Thứ hai, hệ thống quy hoạch có tính manh mún và chỉ dựa trên từng vùng mà không lồng ghép và phối hợp đầy đủ giữa các vùng chức năng hoặc không gian.
Đây là hai vấn đề quan trọng cần giải quyết - nhất là vì tính hiệu quả của hình thái đô th ị và các lợi ích từ sự tích tụ kinh tế dài hạn sẽ phụ thuộc đáng kể vào mức độ giải quyết các điểm thiếu hiệu quả trong hệ thống QHĐT. Theo Huỳnh Thế Du (2012), đang có năm vấn đề và ba mục tiêu của quy hoạch ở TPHCM mà có lẽ cũng đúng cho h ầu hết các địa phương ở Việt Nam. Năm vấn đề này gồm: i) Tăng trưởng dân số thường bị ước tính quá thấp khiến cho các kế hoạch nhanh chóng bị lỗi thời; ii) Các kế hoạch thường có mức kêu gọi đầu tư không thực tế; iii) Thất bại trong việc đánh giá các mục đích sử dụng đất khác nhau hoặc chính sách giao thông vận tải; iv) Các kế hoạch xung đột và sự thiếu hợp tác giữa các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương; và v) Các ảnh hưởng của những nhà phát triển tư nhân đã làm cho các kế hoạch thường bị thay đổi và thực thi một cách phân mảng. Và ba mục tiêu của QHĐT gồm: i) Đàm phán với chính quyền TW để đạt được sự tự chủ cao hơn về chính sách và ngân sách; ii) Tìm kiếm tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật của các nhà tài trợ quốc tế; và iii) Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào việc xây dựng và phát triển TP.
Những vấn đề nêu trên sẽ được sử dụng là cơ sở đánh giá về vai trò thực chất của công tác QHĐT ở tỉnh An Giang. 14 PADDI (2012) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -10- CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ THỰC CHẤT CỦA QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ Ở TỈNH AN GIANG 3. Quy trình lập, phê duyệt và thực hiện quy hoạch đô thị: Quy định lập, thẩm định và phê duyệt QHĐT được áp dụng thống nhất theo Luật Xây dựng, Luật QHĐT và các văn bản có liên quan. Căn cứ chủ yếu để lập các QHĐT là Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH, hiện hành là Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 801/QĐ-TTg ngày 27/6/2012.
Tuỳ theo từng loại quy hoạch mà có sự phân cấp về thẩm quyền phê duyệt, nhưng khái quát có thể tóm lược quy trình như sau: 3.1 Trình tự lập quy hoạch Theo các quy định hiện thành, để thực hiện lập một đồ án quy hoạch cần thực hiện các bước sau: i) Xin chủ trương lập quy hoạch; ii) Lựa chọn tư vấn lập quy hoạch; iii) Tổ chức lập, trình thẩm định phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch và dự toán kinh phí lập quy hoạch; iv) Điều tra, khảo sát, thu thập số liệu và xác định các căn cứ lập quy hoạch; v) Tổ chức lập, trình thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch.