Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới được xác định là một chủ trương chiến lược dài hạn theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Tại Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm trên 70% tổng dân số và tập trung khoảng 73% lực lượng lao động xã hội. Đây là khu vực đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và tạo nền tảng ổn định kinh tế - xã hội.

Tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh – địa bàn cửa ngõ phía Tây Bắc của tỉnh với tổng diện tích tự nhiên đạt 9.686,2 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 6.120,16 ha (tương đương 63,2%) – quá trình hiện đại hóa nông thôn gắn liền với tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng. Tính đến ngày 31/12/2016, toàn huyện đã có 7/13 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia, tăng thêm 3 xã so với giai đoạn đầu thực hiện. Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực nội tại từ cộng đồng dân cư trong xây dựng kết cấu hạ tầng vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tâm lý thụ động, trông chờ vào ngân sách hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn tồn tại ở một bộ phận nhân dân và cán bộ cơ sở.

Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài tập trung đánh giá toàn diện vai trò tham gia của người dân trong việc thực hiện các tiêu chí hạ tầng nông thôn mới, trọng tâm là hạ tầng giao thông và trường học tại huyện Yên Phong. Phạm vi nghiên cứu được triển khai dựa trên các dữ liệu giai đoạn 2012–2016 và khảo sát thực địa từ tháng 05/2016 đến tháng 05/2017 tại 3 xã đại diện: Đông Thọ (xã điểm hoàn thành), Văn Môn (xã khá) và Trung Nghĩa (xã trung bình). Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc đo lường 4 nhóm nguồn lực đóng góp từ cộng đồng, chỉ rõ các yếu tố chi phối mức độ tham gia, từ đó cung cấp căn cứ khoa học giúp địa phương hoàn thành mục tiêu đưa 6 xã còn lại về đích nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển cộng đồng có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal - PRA) do Oakley (1989) khởi xướng. Lý thuyết này khẳng định sự tham gia không chỉ dừng lại ở việc người dân nhận thông tin thụ động, mà là một tiến trình nâng cao năng lực, trao quyền ra quyết định, phân chia nguồn lực và kiểm tra, đánh giá các hoạt động phát triển. Theo đó, thang đo mức độ tham gia được chia thành 3 cấp độ căn bản: không tham gia (cán bộ áp đặt), tham gia hình thức (chỉ nhận thông báo và làm theo nhiệm vụ), và tham gia thực sự (cộng đồng cùng bàn bạc, quyết định và tự quản lý).

Song song đó, đề tài vận dụng lý thuyết quản trị công và cơ chế dân chủ cơ sở theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng", gắn liền với khung pháp lý quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC. Khung nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Không gian kinh tế - xã hội có kết cấu hạ tầng đồng bộ, môi trường sinh thái bền vững và đời sống văn hóa tiến bộ.
  • Hạ tầng nông thôn mới: Hệ thống công trình kỹ thuật và xã hội thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh, trực tiếp là giao thông nông thôn (Tiêu chí 2) và mạng lưới trường học đạt chuẩn (Tiêu chí 5).
  • Nguồn lực cộng đồng: Bao gồm 4 hình thức đóng góp chủ yếu: ý kiến hiến kế, ngày công lao động trực tiếp, tài sản/đất đai hiến tặng và tài chính tự nguyện.
  • Giám sát đầu tư của cộng đồng: Cơ chế kiểm soát quyền lực xã hội nhằm đảm bảo tính minh bạch tài chính và chất lượng kỹ thuật của các công trình công cộng.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện khảo sát tổng thể 95 mẫu điều tra, trong đó gồm 11 cán bộ chuyên trách cấp huyện, cấp xã và 84 đại diện chủ hộ gia đình tại 3 xã khảo sát (Đông Thọ, Văn Môn, Trung Nghĩa). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện theo các nhóm thu nhập (giàu, khá, trung bình, nghèo) và các bậc trình độ học vấn khác nhau.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2012–2016 của Ban Chỉ đạo NTM tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện Yên Phong và số liệu thống kê đất đai, kinh tế - xã hội. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra bảng hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung (FGD).
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính tần số, tỷ lệ phần trăm, số bình quân), phương pháp so sánh đối chiếu giữa các nhóm xã có mức độ hoàn thành tiêu chí khác nhau, cùng phương pháp phân tích định tính từ các biên bản phỏng vấn chuyên sâu. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác tỷ lệ tham gia của người dân theo từng tiêu chí hạ tầng, đồng thời bóc tách rõ mối tương quan giữa đặc điểm kinh tế hộ với hành vi đóng góp thực tế.
  • Khung thời gian nghiên cứu: Khảo sát thực địa thu thập số liệu sơ cấp diễn ra từ tháng 05/2016 đến tháng 05/2017, tích hợp chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài liên tục trong 5 năm (2012–2016).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu khảo sát từ 84 hộ dân và 11 cán bộ quản lý tại huyện Yên Phong cho thấy vai trò của người dân trong việc thực hiện tiêu chí giao thông và trường học thể hiện rõ nét qua các khía cạnh:

Thứ nhất, mức độ tham gia họp bàn và đóng góp ý kiến còn mang tính hình thức. Có tới 76,2% người dân tham gia đầy đủ các buổi họp thôn phổ biến chủ trương nông thôn mới. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ thực sự chủ động đưa ra ý kiến phản biện về quy hoạch hướng tuyến giao thông hay phương án thiết kế trường học chỉ dừng lại ở mức 36,9%. Phần lớn người dân (trên 60%) chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin và biểu quyết đồng thuận theo các phương án đã do Ban Quản lý xã xây dựng sẵn.

Thứ hai, đóng góp tài chính và hiện vật đạt kết quả ấn tượng nhưng phân bổ không đồng đều. Đóng góp kinh phí xây dựng đường giao thông và trường học tại 3 xã nghiên cứu chiếm khoảng 12% đến 18% tổng mức đầu tư công trình. Điển hình tại xã điểm Đông Thọ và xã Văn Môn, nhiều hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã ủng hộ tự nguyện từ 5 đến 20 triệu đồng/hộ. Về tài sản, phong trào hiến đất làm đường giao thông nông thôn lan tỏa mạnh mẽ, với hơn 42% số hộ được khảo sát đã tự nguyện tháo dỡ tường rào, hiến từ 10 m2 đến 50 m2 đất thổ cư hoặc đất canh tác mà không nhận bồi thường, giúp địa phương tiết kiệm trên 30% chi phí giải phóng mặt bằng.

Thứ ba, đóng góp ngày công lao động giúp giảm tải đáng kể chi phí ngân sách. Người dân tại 3 xã đã tham gia trung bình từ 3,5 đến 5,2 ngày công/hộ/năm vào các hoạt động dọn dẹp mặt bằng, nạo vét mương rãnh tiêu thoát nước và đổ bê tông đường ngõ xóm. Việc huy động công lao động tại chỗ đã giúp giảm giá thành thi công từ 15% đến 20% so với phương án thuê khoán toàn bộ cho doanh nghiệp xây dựng.

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát cộng đồng còn nhiều khoảng trống. Mặc dù 100% các xã đã thành lập Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, nhưng chỉ có khoảng 28,6% người dân cho biết họ thường xuyên thực hiện quyền giám sát chất lượng vật liệu cát, đá, xi măng khi thi công. Khoảng 71,4% số hộ chỉ quan sát thụ động các đoạn đường chạy qua trước cửa nhà mình do thiếu kiến thức chuyên môn về kỹ thuật xây dựng và tâm lý e ngại va chạm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự phân hóa mức độ tham gia bắt nguồn từ điều kiện kinh tế hộ và trình độ dân trí. Các hộ gia đình làm nghề phi nông nghiệp tại Văn Môn có mức thu nhập cao hơn nên sẵn sàng đóng góp tài chính lớn, nhưng lại thiếu hụt thời gian tham gia họp bàn và giám sát trực tiếp. Ngược lại, các hộ thuần nông tại Trung Nghĩa đóng góp tích cực về ngày công lao động nhưng gặp khó khăn khi phải huy động vốn tiền mặt đối ứng.

Khi so sánh với các mô hình tiêu biểu trên toàn quốc, bài học từ huyện Yên Phong có nét tương đồng với huyện Hải Hậu (tỉnh Nam Định) – nơi lấy cấp xóm làm hạt nhân thi đua và huy động được hơn 500 tỷ đồng cùng 400 ha đất hiến tặng. Tuy nhiên, Yên Phong vẫn chưa đạt được quy mô tuyên truyền sâu rộng và mức độ đồng thuận cao như tại xã Tân Thông Hội (huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh), nơi có 1.287 hộ dân tự nguyện hiến 34.095,9 m2 đất trị giá trên 50 tỷ đồng nhờ sử dụng hơn 5.000 áp phích và 21 cụm pano cổ động trực quan.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, cơ cấu nguồn vốn xây dựng hạ tầng nông thôn mới có thể được minh họa qua biểu đồ cột chồng (so sánh tỷ trọng giữa vốn ngân sách Nhà nước, vốn doanh nghiệp và vốn cộng đồng đóng góp tại 3 xã). Đồng thời, mức độ tham gia 4 nguồn lực (ý kiến, tài chính, ngày công, đất đai) nên được thể hiện qua bảng so sánh đối chéo theo các nhóm học vấn và mức thu nhập của hộ dân nhằm làm nổi bật mối quan hệ nhân quả.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của người dân trong việc hoàn thành và nâng cao chất lượng tiêu chí hạ tầng nông thôn mới tại huyện Yên Phong giai đoạn 2017–2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đổi mới và đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, vận động quần chúng.

  • Cơ quan thực hiện: Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện Yên Phong phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã.
  • Hành động cụ thể: Chuyển đổi từ tuyên truyền một chiều sang đối thoại trực tiếp tại từng cụm dân cư; lồng ghép phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới" với tiêu chí "Gia đình 5 không, 3 sạch".
  • Mục tiêu định lượng: Đảm bảo 100% người dân trong độ tuổi lao động nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ và quy hoạch chi tiết các công trình trước khi khởi công.
  • Lộ trình: Triển khai định kỳ hàng quý, bắt đầu từ quý 3/2017.

Thứ hai, chuẩn hóa cơ chế huy động vốn dân chủ và công khai tài chính.

  • Cơ quan thực hiện: Ban Quản lý NTM cấp xã và Ban Phát triển thôn.
  • Hành động cụ thể: Mức đóng góp tài chính phải do chính người dân bàn bạc, biểu quyết thống nhất, tuyệt đối không áp đặt mức thu cào bằng vượt quá khả năng chi trả của hộ nghèo; áp dụng cơ chế "Nhà nước hỗ trợ xi măng, nhân dân tự làm đường".
  • Mục tiêu định lượng: 100% các khoản thu - chi đóng góp của người dân phải được niêm yết công khai tại nhà văn hóa thôn và phát trên hệ thống truyền thanh xã định kỳ hàng tháng.
  • Lộ trình: Thực hiện thường xuyên trong suốt giai đoạn 2017–2020.

Thứ ba, nâng cao hiệu lực hoạt động của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng.

  • Cơ quan thực hiện: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện phối hợp cùng Thanh tra nhân dân cấp xã.
  • Hành động cụ thể: Mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng kiểm tra hồ sơ thiết kế, nhận biết chất lượng vật tư xây dựng cơ bản cho đại diện người dân và trưởng thôn; bắt buộc phải có chữ ký xác nhận của đại diện cộng đồng thụ hưởng trong biên bản nghiệm thu thanh quyết toán.
  • Mục tiêu định lượng: Tổ chức tối thiểu 02 đợt tập huấn chuyên sâu/năm cho 100% thành viên ban giám sát cộng đồng tại 13 xã.
  • Lộ trình: Hoàn thành khóa đào tạo đầu tiên trong quý 4/2017.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách khen thưởng và nhân rộng điển hình hiến đất, góp công.

  • Cơ quan thực hiện: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng huyện Yên Phong và UBND các xã.
  • Hành động cụ thể: Kịp thời tôn vinh, biểu dương các tập thể xóm, dòng họ và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc hiến từ 20 m2 đất trở lên hoặc đóng góp ngày công tiêu biểu; đưa kết quả tham gia NTM thành tiêu chí bình xét Gia đình văn hóa hàng năm.
  • Mục tiêu định lượng: Phấn đấu đưa 6/13 xã còn lại đạt chuẩn NTM vào cuối năm 2017, tạo đà xây dựng huyện nông thôn mới giai đoạn trước năm 2020.
  • Lộ trình: Tổng kết, đánh giá và khen thưởng vào dịp sơ kết 6 tháng và tổng kết cuối năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt phù hợp cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, Cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức phụ trách nông thôn mới cấp huyện, cấp xã. Nghiên cứu cung cấp bài học thực chứng về quy trình lấy ý kiến cộng đồng, cơ chế công khai tài chính và kinh nghiệm xử lý mâu thuẫn trong giải phóng mặt bằng, giúp nâng cao chỉ số hài lòng của người dân tại địa phương.

Thứ hai, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp thiết kế bộ chỉ tiêu đánh giá sự tham gia của cộng đồng (PRA), xử lý dữ liệu khảo sát vi mô 95 mẫu và mô hình hóa các yếu tố tác động đến hành vi kinh tế hộ.

Thứ ba, Các Ban Quản lý dự án hạ tầng cơ sở và tổ chức phát triển nông thôn. Cung cấp căn cứ thực tế để xây dựng sổ tay hướng dẫn quản lý dự án dựa vào cộng đồng, từ khâu xác định nhu cầu ưu tiên đến vận hành, bảo dưỡng công trình sau đầu tư.

Thứ tư, Sinh viên ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển và Khuyến nông. Luận văn đóng vai trò là một case study điển hình về việc hiện thực hóa các văn bản quy phạm pháp luật vào thực tiễn địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

Người dân huyện Yên Phong đóng góp nhiều nhất ở hình thức nào trong xây dựng hạ tầng? Người dân tham gia tích cực nhất thông qua việc đóng góp ngày công lao động (đạt từ 3,5 đến 5,2 ngày công/hộ) và hiến đất làm đường giao thông (hơn 42% hộ hiến đất). Các hình thức này được bà con hưởng ứng cao vì mang lại lợi ích nhìn thấy rõ ràng ngay tại khu dân cư mình sinh sống.

Yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ tham gia của hộ gia đình? Điều kiện kinh tế và trình độ học vấn của chủ hộ là hai yếu tố có tác động chi phối mạnh mẽ nhất. Các hộ có thu nhập khá và trình độ văn hóa cao có xu hướng đóng góp tiền mặt lớn hơn và nhận thức đầy đủ hơn về vai trò làm chủ của mình, trong khi các hộ nghèo tham gia chủ yếu bằng công sức lao động.

Tại sao sự tham gia của người dân ở khâu giám sát công trình còn hạn chế? Có khoảng 71,4% hộ dân chỉ giám sát thụ động do thiếu kiến thức chuyên môn về đọc bản vẽ kỹ thuật, quy chuẩn vật liệu xây dựng, kết hợp với tâm lý ngại va chạm với chủ thầu hoặc cơ quan chức năng địa phương.

Luận văn đã rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể ứng dụng tại Yên Phong? Nghiên cứu chỉ ra tính hiệu quả từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc trong việc kích hoạt tinh thần tự lực của dân làng thông qua cơ chế Nhà nước hỗ trợ một phần vật tư, để cộng đồng tự bàn bạc thiết kế, thi công và quản lý công trình.

Chính sách nào là đòn bẩy quan trọng nhất để huy động người dân hiến đất làm đường? Chính sách công khai, minh bạch quy hoạch và vận dụng linh hoạt nguyên tắc dân chủ cơ sở là yếu tố quyết định. Khi người dân thấy rõ việc mở rộng đường giúp tăng giá trị bất động sản và thuận lợi cho việc đi lại, buôn bán của chính họ, tỷ lệ đồng thuận hiến đất tự nguyện sẽ đạt trên 90%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân trong xây dựng hạ tầng nông thôn mới, xác lập bộ khung đánh giá 4 nguồn lực nội sinh từ cộng đồng.
  • Đánh giá thực trạng tại huyện Yên Phong với 95 mẫu điều tra cho thấy người dân đã đóng góp tích cực về ngày công (3,5–5,2 công/hộ) và hiến đất giải phóng mặt bằng, góp phần giúp 7/13 xã đạt chuẩn NTM tính đến hết năm 2016.
  • Nhận diện rõ hai điểm nghẽn lớn: Tỷ lệ tham gia ý kiến chuyên sâu còn thấp (dưới 40%) và hoạt động kiểm tra, giám sát cộng đồng còn mang tính hình thức ở hơn 70% số hộ.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao về truyền thông dân vận, minh bạch tài chính, đào tạo giám sát và thi đua khen thưởng đã vạch rõ lộ trình hỗ trợ 6 xã còn lại về đích NTM trong giai đoạn 2017–2020.
  • Các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở cần quán triệt sâu sắc phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng", coi người nông dân là chủ thể trung tâm của mọi quyết sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững.