Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Báo cáo về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2020 của tổ chức Germanwatch chỉ ra Việt Nam đứng thứ 6 trong số 10 quốc gia chịu thiệt hại nghiêm trọng nhất bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan giai đoạn 1999–2018. Biến đổi khí hậu (BĐKH) làm suy giảm tài nguyên, suy thoái môi trường tự nhiên, gia tăng mức độ tổn thương và cản trở tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, các dải ven biển và vùng đồng bằng là những khu vực tập trung đông dân cư nhưng đồng thời chịu rủi ro thiên tai nặng nề nhất; nguồn sinh kế của cộng đồng địa phương phụ thuộc phần lớn vào nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản cũng như du lịch. Nâng cao khả năng thích ứng (KNTƯ) với BĐKH là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo đảm an sinh và tạo nền tảng cho phát triển bền vững (PTBV).

Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế - xã hội ven biển miền Trung có tốc độ đô thị hóa nhanh nhưng thường xuyên đối mặt với ngập lụt diện rộng, xâm nhập mặn gia tăng và hạn hán kéo dài. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới khi đánh giá KNTƯ hoặc các yếu tố ảnh hưởng thường sử dụng phương pháp điều tra xã hội học mô tả, phân tích thứ cấp AHP, phương pháp trọng số Iyengar – Sudarshan hoặc phân tích thành phần chính (PCA). Tuy nhiên, phương pháp AHP phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của chuyên gia khi so sánh cặp; phương pháp Iyengar – Sudarshan phụ thuộc vào biên độ phương sai của chuỗi dữ liệu; còn phương pháp PCA không tính toán và kiểm soát được các sai số đo lường trong mô hình. Nhằm khắc phục các hạn chế này, việc ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Modeling - SEM) cho phép kết hợp phân tích sai số đo lường và lượng hóa đồng thời các mối quan hệ đa chiều giữa các nguồn lực sinh kế và KNTƯ của thành phố Đà Nẵng.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Nghiên cứu đề xuất bộ chỉ số ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng với BĐKH dựa trên sinh kế bền vững.
  2. Nghiên cứu lựa chọn mô hình cấu trúc SEM để đánh giá vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng với BĐKH.
  3. Đánh giá vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng, hộ trung bình - khá giả và hộ nghèo - cận nghèo với BĐKH.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cơ sở khoa học và thực tiễn nào để đề xuất bộ chỉ số KNTƯ của thành phố Đà Nẵng với BĐKH?
  2. Cơ sở khoa học và thực tiễn nào để lựa chọn phương pháp mô hình cấu trúc SEM để đánh giá vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng với BĐKH?
  3. Kết quả đánh giá vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng, hộ trung bình - khá giả và hộ nghèo - cận nghèo với BĐKH là như thế nào?

Luận điểm nghiên cứu

  1. Luận điểm 1: Bộ chỉ số ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng với BĐKH được đề xuất dựa theo tiếp cận của IPCC (2014) và các nguồn lực sinh kế của DFID bao gồm cơ sở hạ tầng (CSHT), xã hội, tự nhiên, tài chính, nhân lực cùng 17 chỉ số là phù hợp với điều kiện phát triển tự nhiên - kinh tế - xã hội - sinh kế của thành phố.
  2. Luận điểm 2: Phương pháp mô hình cấu trúc SEM vừa bảo đảm tính toán được vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ với BĐKH, đồng thời hạn chế tối đa các sai số đo lường tính toán. Kết quả đánh giá sử dụng phương pháp này cho thấy yếu tố CSHT, tự nhiên có vai trò ảnh hưởng lớn đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng và hộ trung bình - khá giả; trong khi đó yếu tố tài chính có vai trò ảnh hưởng lớn đối với hộ nghèo - cận nghèo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của thành phố Đà Nẵng với BĐKH.
  • Phạm vi không gian: Thành phố Đà Nẵng, bao gồm 7 quận/huyện: quận Hải Châu, quận Liên Chiểu, quận Sơn Trà, quận Ngũ Hành Sơn, quận Thanh Khê, quận Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang.
  • Phạm vi thời gian: Năm 2014 (thời điểm thu thập chuỗi số liệu điều tra hộ gia đình).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung:

1. Nghiên cứu bộ chỉ số thích ứng và KNTƯ với BĐKH:

  • Trên thế giới: Ủy ban Môi trường Anh (2014) đề xuất bộ chỉ số thích ứng cho môi trường tự nhiên dựa trên 4 đặc tính chống chịu (đa dạng sinh học, tính linh hoạt quản lý, giảm áp lực nhân sinh, cung cấp dịch vụ hệ sinh thái). Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO, 2017) xây dựng bộ chỉ số theo dõi thích ứng nông nghiệp gồm 4 nhóm: tài nguyên thiên nhiên/hệ sinh thái, hệ thống sản phẩm nông nghiệp, kinh tế - xã hội, thể chế chính sách. Annie Doubleday (2014) phát triển bộ chỉ số giám sát thích ứng y tế công cộng vùng Tây Bắc Thái Bình Dương (Hoa Kỳ) dựa trên chia sẻ thông tin, tính công bằng, nguồn lực y tế và năng lực ứng phó rủi ro dịch bệnh.
  • Tại Việt Nam: Huỳnh Thị Lan Hương (2013) nghiên cứu bộ chỉ số thích ứng phục vụ quản lý nhà nước qua quy trình 3 bước theo 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường. Đỗ Nam Thắng và cộng sự (2017) đề xuất 4 tiêu chí đánh giá mô hình sinh kế thích ứng BĐKH (thích ứng, giảm nhẹ phát thải, tính bền vững, khả năng nhân rộng). Lê Trọng Cúc (2016) đề xuất hệ tiêu chí đánh giá mô hình kinh tế cấp huyện thích ứng BĐKH vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 6 tiêu chí (kinh tế - xã hội, thể chế chính sách, văn hóa - xã hội, thích ứng, môi trường, quản lý và nhân rộng).

2. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ với BĐKH:

  • Quy mô quốc gia: Yohe & Tol (2002) thiết lập 5 yếu tố cấu thành KNTƯ (phúc lợi và ổn định kinh tế, cấu trúc nhân khẩu, khả năng kết nối, độ phụ thuộc tài nguyên, ổn định giáo dục) đo lường qua 9 chỉ số. Moore (2017) phân tích ngành du lịch đảo quốc Grenada với các yếu tố động lực thích ứng, tự nhiên, công nghệ, kinh tế, nhân lực và thể chế. Carraro (2012) xây dựng chỉ số thích ứng cho nước Ý dựa trên tài chính, công nghệ, kiến thức, CSHT và thể chế.
  • Quy mô vùng và đô thị: Swanson và cộng sự (2007) nghiên cứu vùng Prairie (Canada) với 6 nhóm yếu tố (kinh tế, công nghệ, thông tin - quản lý - kỹ năng, CSHT, mạng lưới và thể chế, công bằng xã hội) gồm 24 chỉ số. Tác giả Smit (2001, 2006) khẳng định CSHT và tiềm lực tài chính quyết định phạm vi lựa chọn hành động thích ứng. Hughes và cộng sự (2012) nghiên cứu ngành ngũ cốc Tây Bắc Úc qua 3 trụ cột (kinh tế, văn hóa - xã hội, CSHT - thể chế) với 17 chỉ số. Báo cáo đánh giá lần 3 của IPCC (2001) xác định KNTƯ phụ thuộc hệ sinh thái, kinh tế - xã hội, chính sách và công nghệ.
  • Quy mô hộ gia đình: Yohe & Tol (2002), Nelson (2010b) đánh giá KNTƯ hộ nông dân qua nguồn lực tài nguyên và tài sản sản xuất. Eakin và cộng sự (2010) khảo sát nông hộ Nicaragua với 6 yếu tố (hoạt động kinh tế, thông tin, công nghệ, xã hội, kiến thức, CSHT). Defiesta và cộng sự (2014) áp dụng khung sinh kế bền vững tại Dumagas (Philippines) với 5 nguồn lực (nhân lực, vật chất, tài chính, thông tin, sinh kế). Perch-Nielsen (2008) tại Sri Lanka chia KNTƯ hộ gia đình thành 4 yếu tố (kinh tế, xã hội, CSHT, nhân lực). Asamoah (2017) khảo sát nông hộ nghèo tại Bắc Ghana với các yếu tố kinh tế, xã hội, công nghệ, thể chế, CSHT và đào tạo.
  • Tại Việt Nam: Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2015) đề xuất mô hình đô thị ven biển thích ứng BĐKH gồm khả năng chống chịu tự nhiên, chống chịu xã hội (vốn CSHT, vốn tài chính, vốn văn hóa, vốn nhân lực, vốn quản trị) và khả năng chuyển hóa thách thức thành cơ hội. Nguyễn Hoàng Sơn (2019) nghiên cứu đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với 5 yếu tố nguồn lực (con người, CSHT, xã hội, tự nhiên, tài chính). Nguyễn Bùi Phong và cộng sự (2015) đánh giá KNTƯ cấp hộ tại huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) với 5 nhóm (con người, kinh tế hộ, sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội, quản trị đô thị).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu đã xác định được nhiều nhóm yếu tố tác động đến KNTƯ, phần lớn các công trình trong nước chỉ dừng ở mức tính toán chỉ số tổng hợp đơn thuần hoặc dùng phương pháp gán trọng số chuyên gia (AHP) và phân tích thống kê truyền thống (PCA, Iyengar – Sudarshan). Chưa có nghiên cứu nào tại các đô thị ven biển Việt Nam ứng dụng mô hình cấu trúc SEM để:

  • Đo lường và kiểm soát đồng thời các sai số đo lường giữa các biến quan sát với các yếu tố tiềm ẩn.
  • Định lượng chính xác mức độ tác động và thứ bậc ưu tiên của từng nguồn lực sinh kế tới KNTƯ theo từng phân tầng xã hội cụ thể (toàn thành phố, hộ trung bình - khá giả, hộ nghèo - cận nghèo).
Phương pháp Ưu điểm ghi nhận trong luận án Nhược điểm/Hạn chế ghi nhận trong luận án
Điều tra xã hội học Thu thập dữ liệu nhanh, thuận tiện báo cáo mô tả Mang tính chủ quan của người hỏi và người trả lời, thiếu kiểm định sai số
Phân tích thứ bậc AHP Cho phép so sánh cặp, xác định thứ tự ưu tiên đa tiêu chí Phức tạp khi số lượng biến lớn, kết quả phụ thuộc chủ quan vào ý kiến chuyên gia
Iyengar – Sudarshan Tính trọng số khách quan theo dữ liệu thống kê Phụ thuộc vào biên độ dao động phương sai; biến biến thiên hẹp bị gán trọng số cao
Phân tích thành phần chính (PCA) Giảm chiều dữ liệu, loại bỏ tương quan đa cộng tuyến Chỉ áp dụng dữ liệu định lượng, không có thành phần sai số đo lường mô hình
Mô hình cấu trúc SEM Kết hợp phân tích sai số đo lường, đánh giá đồng thời các quan hệ tiềm ẩn Đòi hỏi cỡ mẫu khảo sát lớn, quy trình kiểm định thang đo khắt khe (EFA, CFA)

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Biến đổi khí hậu: Định nghĩa theo IPCC (2014) là sự biến đổi trạng thái khí hậu so với trung bình hoặc sự dao động kéo dài qua nhiều thập kỷ, biểu hiện qua nhiệt độ tăng, thay đổi lượng mưa, nước biển dâng và cực đoan thời tiết.
  • Thích ứng với BĐKH: Là sự điều chỉnh trong hệ thống tự nhiên hoặc nhân tạo nhằm giảm thiểu tổn hại hoặc khai thác các cơ hội có lợi (IPCC, 2001, 2014).
  • Khả năng thích ứng (KNTƯ): Năng lực tự điều chỉnh của một hệ thống trước BĐKH nhằm giảm nhẹ thiệt hại tiềm tàng, ứng phó hậu quả hoặc tận dụng cơ hội (IPCC, 2014; Brooks, 2005).
  • Tiếp cận sinh kế bền vững (SLA - Sustainable Livelihoods Approach): Theo khung của DFID (Chambers & Conway, 1992), sinh kế gồm năng lực, tài sản và các hoạt động để kiếm sống. Nghiên cứu lấy 5 nguồn vốn sinh kế làm cốt lõi để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ:
    1. Nguồn vốn tự nhiên (TN): Đất đai, nguồn nước, tài nguyên sinh thái.
    2. Nguồn vốn cơ sở hạ tầng/vật chất (CSHT): Nhà ở kiên cố, giao thông, thủy lợi, trạm y tế, trường học, điện nước.
    3. Nguồn vốn con người/nhân lực (NL): Sức khỏe, trình độ học vấn, kỹ năng ứng phó thiên tai, kinh nghiệm sản xuất.
    4. Nguồn vốn xã hội (XH): Mối quan hệ họ hàng, đoàn thể, mạng lưới tương trợ cộng đồng, sự hỗ trợ chính quyền.
    5. Nguồn vốn tài chính (TC): Thu nhập bình quân, tiền tích lũy, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng, tài sản sản xuất.
  • Tiêu chuẩn phân nhóm hộ nghèo và cận nghèo: Áp dụng theo quy định chuẩn nghèo ban hành tại thời điểm khảo sát (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) chia thành hộ nghèo thành thị (thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống), hộ nghèo nông thôn (từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống), hộ cận nghèo thành thị (501.000 - 650.000 đồng/người/tháng) và hộ cận nghèo nông thôn (401.000 - 500.000 đồng/người/tháng).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp kế thừa, thu thập, thống kê số liệu: Tiếp nhận số liệu điều tra hộ gia đình từ đề tài cấp quốc gia mã số BĐKH.32/10-15; thu thập các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, dữ liệu khí tượng thủy văn thành phố Đà Nẵng năm 2014.
  2. Phương pháp chuyên gia: Tổ chức tham vấn nhóm chuyên gia đa ngành (danh sách gồm 11 chuyên gia tại Phụ lục 5) để sàng lọc, chuẩn hóa danh mục các biến quan sát thuộc bộ chỉ số KNTƯ.
  3. Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu phỏng vấn cấu trúc đối với chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình.
  4. Quy trình phân tích định lượng trên phần mềm SPSS và AMOS:
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo: Tính toán hệ số Cronbach's Alpha (yêu cầu > 0,6; hệ số tương quan biến - tổng > 0,3).
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Kiểm tra chỉ số KMO (0,5 < KMO < 1), kiểm định Bartlett (Sig. < 0,05), hệ số tải nhân tố (Factor Loading > 0,5) và tổng phương sai trích (> 50%).
    • Phân tích nhân tố khẳng định (CFA): Đánh giá độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR > 0,7), phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted - AVE > 0,5); kiểm định độ phù hợp mô hình qua CMIN/df (< 3), GFI, AGFI, TLI, CFI (> 0,9), RMSEA (< 0,08) và SRMR (< 0,05).
    • Mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM): Ước lượng các trọng số hồi quy chưa chuẩn hóa và chuẩn hóa nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 yếu tố (CSHT, TN, XH, NL, TC) lên biến KNTƯ.
    • Kiểm định lặp Bootstrap: Thực hiện với số lượng mẫu lặp n = 300 nhằm kiểm tra tính ổn định, vững chắc của các ước lượng tham số mô hình SEM.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu khảo sát sơ cấp kế thừa từ Đề tài BĐKH.32/10-15 gồm 1.168 phiếu phỏng vấn hợp lệ tại 7 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng, phân bổ theo hai nhóm đối tượng hộ gia đình:

  • Nhóm hộ trung bình - khá giả: 684 hộ.
  • Nhóm hộ nghèo - cận nghèo: 484 hộ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng, bộ chỉ số khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về các khái niệm cốt lõi: BĐKH, thích ứng, KNTƯ, sinh kế bền vững và nguồn vốn sinh kế. Tác giả tổng thuật chi tiết các mô hình KNTƯ trên thế giới từ quy mô quốc gia (Yohe & Tol, 2002; Carraro, 2012) đến quy mô đô thị, vùng (Swanson, 2007; Hughes, 2012) và quy mô nông hộ (Eakin, 2010; Defiesta, 2014; Asamoah, 2017). Tại Việt Nam, tác giả điểm luận các nghiên cứu tiêu biểu của Huỳnh Thị Lan Hương (2013), Mai Trọng Nhuận (2015), Đỗ Nam Thắng (2017) và các nghiên cứu cấp hộ tại Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng.

Phần quan trọng của chương là tổng quan so sánh 5 phương pháp đánh giá vai trò các yếu tố: điều tra xã hội học, AHP, Iyengar – Sudarshan, PCA và SEM. Tác giả phân tích rõ:

  • AHP gặp rủi ro thiếu nhất quán ma trận khi số lượng chỉ tiêu so sánh cặp tăng lên.
  • Iyengar – Sudarshan chịu ảnh hưởng bởi giả định trọng số tỷ lệ nghịch với phương sai chỉ tiêu.
  • PCA loại bỏ thông tin sai số đo lường.
  • Phương pháp SEM là giải pháp thích hợp nhất để tích hợp cả phân tích nhân tố và mô hình hồi quy đa biến, cho phép xử lý sai số ngẫu nhiên trong biến số khảo sát.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu, khu vực nghiên cứu, số liệu sử dụng

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận SEM, cấu trúc mô hình đo lường và mô hình cấu trúc. Tác giả trình bày các tiêu chuẩn thống kê dùng trong luận án bao gồm kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, CFA với các chỉ số đo độ phù hợp (Goodness of Fit), phân tích hệ số điều chỉnh sai số MI (Modification Indices) và ước lượng Bootstrap (n = 300).

Về khu vực nghiên cứu, chương trình bày điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu và kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng năm 2014. Với đường bờ biển dài, địa hình chuyển tiếp từ đồi núi phía Tây sang đồng bằng ven biển phía Đông, Đà Nẵng là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão bão nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, sạt lở bờ biển và hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô.

Số liệu sử dụng được thu thập thông qua phiếu điều tra xã hội học tại 7 quận/huyện năm 2014:

Quận/Huyện Số phiếu hộ trung bình - khá giả Số phiếu hộ nghèo - cận nghèo Tổng số phiếu điều tra
Hải Châu 108 72 180
Thanh Khê 105 69 174
Sơn Trà 98 71 169
Ngũ Hành Sơn 92 68 160
Liên Chiểu 99 67 166
Cẩm Lệ 94 66 160
Hòa Vang 88 71 159
Tổng cộng 684 484 1.168

Chương 3: Đánh giá vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của thành phố Đà Nẵng với biến đổi khí hậu

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm chính của luận án qua các bước:

  1. Thiết lập bộ chỉ số KNTƯ: Dựa trên 5 nguồn lực sinh kế của DFID và khung đánh giá của IPCC, tác giả đề xuất bộ chỉ số gồm 5 yếu tố ngoại sinh và 1 yếu tố nội sinh (KNTƯ) với 17 chỉ số quan sát.
  2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với cấp toàn thành phố:
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo: Tất cả các thang đo CSHT, Tự nhiên, Xã hội, Nhân lực, Tài chính và KNTƯ đều đạt hệ số Cronbach's Alpha > 0,7.
    • Phân tích CFA: Sau khi hiệu chỉnh qua chỉ số MI, mô hình CFA đạt độ phù hợp cao với dữ liệu thực tế. Các kiểm định độ tin cậy tổng hợp CR > 0,7 và phương sai trích AVE > 0,5.
    • Ước lượng SEM và Bootstrap: Kết quả kiểm định Bootstrap (n = 300) khẳng định các ước lượng có độ tin cậy thống kê cao. Trọng số hồi quy chuẩn hóa cho thấy yếu tố Cơ sở hạ tầng và yếu tố Tự nhiên có tác động mạnh nhất đến KNTƯ của toàn thành phố Đà Nẵng.
  3. Đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với nhóm hộ trung bình - khá giả (n = 684):
    • Quy trình phân tích EFA, CFA và SEM cho nhóm hộ này cho thấy sự tương đồng với cấp thành phố.
    • Trọng số chuẩn hóa của yếu tố CSHT và Tự nhiên tiếp tục chiếm ưu thế cao nhất. Nhóm hộ này có năng lực tích lũy tài chính ổn định nên khả năng chống chịu phụ thuộc chủ yếu vào sự an toàn của hệ thống hạ tầng đô thị (nhà ở kiên cố, tiêu thoát nước, cấp điện, giao thông) và mức độ thuận lợi của tài nguyên tự nhiên tại nơi cư trú.
  4. Đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với nhóm hộ nghèo - cận nghèo (n = 484):
    • Kết quả phân tích SEM cho thấy một sự khác biệt rõ rệt: Yếu tố Tài chính là yếu tố có trọng số chuẩn hóa lớn nhất, giữ vai trò chi phối hàng đầu đến KNTƯ.
    • Đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này, mức thu nhập thấp, thiếu vốn tích lũy và khó tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi khiến họ không đủ nguồn lực để sửa chữa nhà ở kiên cố hoặc phục hồi sản xuất sau thiên tai.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp: Căn cứ vào kết quả định lượng SEM, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp thích ứng cho thành phố Đà Nẵng:
    • Nhóm giải pháp phát triển và sử dụng cơ sở hạ tầng.
    • Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao kỹ năng.
    • Nhóm giải pháp tài chính.
    • Nhóm giải pháp xã hội.
    • Nhóm giải pháp phát triển sản xuất phù hợp với tự nhiên.
Nhóm đối tượng phân tích Thứ tự mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực (từ cao xuống thấp)
Toàn thành phố Đà Nẵng Cơ sở hạ tầng, Tự nhiên > Xã hội, Nhân lực > Tài chính
Hộ trung bình - khá giả Cơ sở hạ tầng, Tự nhiên > Xã hội, Nhân lực > Tài chính
Hộ nghèo - cận nghèo Tài chính > Cơ sở hạ tầng > Nhân lực, Xã hội > Tự nhiên

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Xây dựng bộ chỉ số KNTƯ tích hợp: Đề xuất được bộ chỉ số KNTƯ gồm 17 chỉ số cho thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tích hợp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) của DFID với khung đánh giá thích ứng của IPCC, phản ánh đầy đủ 5 nguồn lực sinh kế (tự nhiên, cơ sở hạ tầng, nhân lực, xã hội, tài chính) gắn với đặc thù đô thị ven biển miền Trung.
  2. Ứng dụng phương pháp SEM trong lĩnh vực BĐKH: Luận án là công trình tiên phong tại Việt Nam áp dụng thành công phương pháp mô hình hóa cấu trúc SEM trên phần mềm AMOS để định lượng vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ với BĐKH. Phương pháp này khắc phục được các hạn chế cố hữu của các phương pháp truyền thống (AHP, PCA, Iyengar – Sudarshan), cho phép bóc tách và kiểm soát triệt để các sai số đo lường, nâng cao tính khách quan và độ tin cậy khoa học của các trọng số ước lượng.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Lượng hóa sự phân hóa vai trò nguồn lực theo phân tầng xã hội: Luận án chứng minh bằng thực nghiệm rằng vai trò của các nguồn lực sinh kế tác động đến KNTƯ không đồng nhất giữa các nhóm cư dân:
    • Ở quy mô toàn thành phố và nhóm hộ trung bình - khá giả, yếu tố Cơ sở hạ tầng và Tự nhiên đóng vai trò chi phối lớn nhất.
    • Ở nhóm hộ nghèo và cận nghèo, yếu tố Tài chính đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với KNTƯ.
  2. Cơ sở khoa học cho quy hoạch và chính sách thích ứng: Cung cấp luận cứ thực nghiệm định lượng chuẩn xác giúp chính quyền thành phố Đà Nẵng và các đô thị ven biển tương đồng xây dựng kế hoạch hành động ứng phó BĐKH có trọng tâm:
    • Ưu tiên đầu tư nâng cấp hạ tầng tiêu thoát nước, đê kè, nhà tránh bão cho toàn đô thị.
    • Thiết kế các gói hỗ trợ tài chính vi mô, bảo hiểm rủi ro thiên tai và vốn vay sinh kế chuyên biệt hướng tới nhóm hộ nghèo và cận nghèo ven biển.

Các nhóm giải pháp đề xuất

  1. Giải pháp cơ sở hạ tầng: Quy hoạch hệ thống thoát lũ, kiên cố hóa nhà ở vùng trũng thấp ven sông Cu Đê và sông Cẩm Lệ; đầu tư nâng cấp cảng cá, âu thuyền tránh bão Thọ Quang; cải thiện mạng lưới cấp nước sạch chống xâm nhập mặn.
  2. Giải pháp phát triển nhân lực và kỹ năng: Đào tạo nghề phi nông nghiệp cho ngư dân và nông dân mất đất do đô thị hóa; tập huấn kỹ năng sơ cấp cứu, phòng chống đuối nước và kỹ thuật chằng chống nhà cửa trước mùa mưa bão.
  3. Giải pháp tài chính: Thành lập quỹ tín dụng quay vòng hỗ trợ hộ nghèo bị ảnh hưởng bởi thiên tai; mở rộng dịch vụ bảo hiểm rủi ro nông nghiệp - thủy sản; hỗ trợ lãi suất cho vay chuyển đổi mô hình kinh tế thích ứng.
  4. Giải pháp xã hội: Nâng cao năng lực kết nối của các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) trong việc hỗ trợ cứu trợ khẩn cấp; tăng cường chia sẻ thông tin dự báo, cảnh báo sớm đến từng cụm dân cư.
  5. Giải pháp sản xuất phù hợp với tự nhiên: Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng chịu hạn, chịu mặn tại huyện Hòa Vang; bảo tồn và phục hồi diện tích rừng ngập mặn đầu nguồn và thảm thực vật ven biển Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn nhằm giảm thiểu xói lở bờ biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Giới hạn thời gian của bộ số liệu: Luận án kế thừa và sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 1.168 hộ dân thực hiện trong năm 2014 từ Đề tài BĐKH.32/10-15. Do đó, các phát hiện thực nghiệm phản ánh bức tranh thực trạng tại thời điểm năm 2014, chưa cập nhật kịp thời các biến động về hạ tầng và kinh tế - xã hội mạnh mẽ của Đà Nẵng trong các năm gần đây.
  • Giới hạn không gian và tính bao quát: Nghiên cứu mới dừng lại trong phạm vi địa giới hành chính của 7 quận/huyện thuộc thành phố Đà Nẵng. Dù khung phương pháp có thể chuyển giao, các trọng số ước lượng mang tính đặc thù cao cho địa bàn nghiên cứu và chưa được kiểm chứng mở rộng trên các vùng sinh thái đô thị khác.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Thực hiện các đợt điều tra khảo sát lặp lại ở các mốc thời gian tiếp theo để cập nhật chuỗi số liệu chu kỳ mới, từ đó phân tích động thái biến đổi vai trò của các yếu tố KNTƯ theo thời gian.
  • Mở rộng ứng dụng mô hình cấu trúc SEM để đánh giá KNTƯ cho các chuỗi đô thị ven biển khác thuộc dải duyên hải miền Trung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm kiểm định tính phổ quát của mô hình.
  • Bổ sung vào mô hình các biến tiềm ẩn mới như năng lực quản trị công, mức độ hoàn thiện thể chế chính sách và sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào công tác thích ứng BĐKH.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng kết quả nghiên cứu

  1. Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách:
    • Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung: Sử dụng các bảng trọng số ước lượng làm căn cứ phân bổ nguồn ngân sách thích ứng BĐKH có trọng tâm, tránh dàn trải.
    • Các cơ quan lập quy hoạch đô thị: Tích hợp các tiêu chí cơ sở hạ tầng chống chịu ngập lụt và hạn mặn vào quy hoạch không gian thành phố đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
  2. Cộng đồng nghiên cứu và đào tạo học thuật:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên môi trường, Địa lý kinh tế, Kinh tế phát triển.
    • Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình ứng dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện các phân tích EFA, CFA, SEM và kiểm định Bootstrap trong nghiên cứu liên ngành môi trường - xã hội.

Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất

  • Chương 2 và Chương 3: Toàn bộ quy trình thiết kế bảng hỏi, lựa chọn 17 chỉ số đại diện cho 5 nguồn vốn sinh kế, cùng các bảng tham số kiểm định Cronbach's Alpha, hệ số tải CFA, bảng ước lượng trọng số chuẩn hóa SEM và kỹ thuật kiểm định Bootstrap (n = 300).

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ chỉ số khả năng thích ứng của thành phố Đà Nẵng trong luận án được xây dựng dựa trên khung lý thuyết nào?

Bộ chỉ số được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) của DFID và khung đánh giá thích ứng của IPCC (2014). Bộ chỉ số gồm 5 nhóm yếu tố ngoại sinh đại diện cho 5 nguồn lực sinh kế: Cơ sở hạ tầng (CSHT), Tự nhiên (TN), Xã hội (XH), Nhân lực (NL), Tài chính (TC) cùng 1 yếu tố nội sinh là Khả năng thích ứng (KNTƯ), được lượng hóa qua 17 chỉ số quan sát cụ thể.

2. Dung lượng mẫu khảo sát của luận án là bao nhiêu và được phân bổ ra sao?

Luận án sử dụng tổng cộng 1.168 phiếu khảo sát hợp lệ từ các hộ gia đình trên địa bàn 7 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng (Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Hòa Vang). Mẫu điều tra được chia thành hai nhóm đối tượng phân tích chuyên biệt: nhóm hộ trung bình - khá giả gồm 684 hộ và nhóm hộ nghèo - cận nghèo gồm 484 hộ.

3. Vì sao tác giả lựa chọn phương pháp mô hình cấu trúc SEM thay vì các phương pháp truyền thống như AHP hay PCA?

Các phương pháp truyền thống tồn tại các nhược điểm kỹ thuật: AHP phụ thuộc nhiều vào tính chủ quan của chuyên gia khi so sánh cặp; phương pháp Iyengar – Sudarshan bị chi phối bởi biên độ dao động phương sai của dữ liệu; PCA loại bỏ hoàn toàn sai số đo lường. Phương pháp SEM khắc phục được các hạn chế này nhờ khả năng kết hợp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích hồi quy cấu trúc, cho phép kiểm soát và xử lý sai số đo lường trong mô hình, đảm bảo tính khách quan và độ chính xác của các trọng số tác động.

4. Kết quả mô hình SEM chỉ ra sự khác biệt bản chất nào giữa nhóm hộ khá giả và nhóm hộ nghèo?

Kết quả ước lượng mô hình SEM cho thấy sự phân hóa rõ rệt:

  • Đối với cấp toàn thành phố và nhóm hộ trung bình - khá giả: Yếu tố Cơ sở hạ tầng và Tự nhiên có trọng số tác động lớn nhất đến KNTƯ.
  • Đối với nhóm hộ nghèo và cận nghèo: Yếu tố Tài chính là yếu tố có vai trò ảnh hưởng lớn nhất và mang tính chi phối hàng đầu. Nhóm hộ này thiếu hụt nguồn lực tài chính tích lũy và thu nhập bấp bênh, làm hạn chế khả năng tự đầu tư phòng chống thiên tai và phục hồi sinh kế.

5. Độ vững chắc của các ước lượng trong mô hình SEM được kiểm định bằng kỹ thuật nào?

Để đảm bảo các ước lượng trọng số của mô hình SEM đạt độ tin cậy khoa học và không bị chệch mẫu, tác giả đã sử dụng kỹ thuật kiểm định lặp lại Bootstrap trên phần mềm AMOS với số lượng mẫu lặp n = 300. Kết quả kiểm định khẳng định độ ổn định và giá trị thống kê của mô hình cấu trúc đề xuất.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Bùi Phong đã hoàn thành việc xây dựng bộ chỉ số KNTƯ với BĐKH gồm 17 chỉ số dựa trên khung 5 nguồn vốn sinh kế bền vững (SLA) và cách tiếp cận của IPCC. Việc ứng dụng thành công mô hình cấu trúc SEM trên cơ sở dữ liệu khảo sát 1.168 hộ dân tại thành phố Đà Nẵng đã cung cấp một quy trình định lượng tin cậy, giải quyết triệt để vấn đề sai số đo lường trong nghiên cứu xã hội - khí hậu. Kết quả thực nghiệm làm sáng tỏ sự khác biệt mang tính quy luật: cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên chi phối năng lực thích ứng của toàn thành phố và nhóm cư dân khá giả, trong khi nguồn vốn tài chính là rào cản cốt lõi đối với nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền thành phố Đà Nẵng hoạch định các chính sách thích ứng BĐKH phân hóa theo từng nhóm đối tượng, bảo đảm tính bền vững cho toàn đô thị ven biển.