CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ e-LEARNING 1. Tổng quan về e-learning. e-Learning là hình thức đào tạo từ xa thông qua các phương tiện truyền thông như truyền hình, máy tính, radio,… với sự hỗ trợ của internet nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người; giúp tiết kiệm được thời gian, chi phí, công sức của người học, giúp người học có thể tiếp nhận được những thành quả mới nhất của khoa học kỹ thuật đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học, thể hiện tính ưu việt và tiến bộ trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin. Lịch sử hình thành và phát triển của e-learning và một số kết quả đã công bố.
Sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin có đóng góp nhiều thành tựu quan trọng, mới mẻ, làm thay đổi diện mạo của nền giáo dục thế giới và giáo dục nước nhà.Việc phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến sự thay đổi trong phương pháp dạy học, con người ngày càng được tiếp cận đến một nguồn cơ sở tri thức vô cùng to lớn, công nghệ e-Learning đã được nghiên cứu và ra đời phục vụ nhu cầu dạy học ngày càng phát triển của con người.1 Trên thế giới. Quá trình hình thành và phát triển của E-learning được đánh dấu bằng các mốc và các giai đoạn như sau: Giai đoạn từ năm 1924 đến năm 1960. Năm 1924: Giáo sư Sidney Pressey đại học bang Ohio phát minh ra máy chấm điểm tự động đóng vai trò như một giáo viên tự động (Automatic Teacher), thiết bị đầu tiên trong học tập điện tử, được thiết kế để cho học sinh khám phá và tự kiểm tra. Tuy nhiên, lần thử đầu tiên này đã không thành công.
Đến năm 1930, các thiết 4 bị truyền thông hỗ trợ giảng dạy đầu tiên như radio, máy thu âm, phim có lời được các nhà giáo dục đưa vào trong dạy học. Đây là phương thức dạy học có sự hỗ trợ của âm thanh và hình ảnh. Năm 1943: Xuất hiện trung tâm giáo dục theo chương trình dạy học nghe nhìn tại Mỹ. Năm 1946, chương trình này được áp dụng cho trường đại học Indiana.
Năm 1954: Giáo sư BF Skinner Đại học Harvard tạo ra máy giảng dạy (Teaching Machine) để sử dụng trong trường học. Máy giảng dạy là một thiết bị cơ khí với mục đích là để quản lý một chương trình giảng dạy theo lập trình. Giai đoạn này người học có thể học thông qua các phương tiện radio, truyền hình và video,… chưa có sự xuất hiện của công nghệ máy tính. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1983: Các cơ sở giáo dục bắt đầu tận dụng lợi thế của các phương tiện mới bằng cách cung cấp các khóa học đào tạo từ xa sử dụng mạng máy tính để biết thông tin.
Năm 1960, Đại học Illinois đã khởi xướng một hệ thống lớp học , nơi sinh viên có thể truy cập tài nguyên thông tin trên một khóa học đặc biệt trong khi nghe các bài giảng được ghi lại thông qua một số hình thức từ xa như thiết bị truyền hình hoặc thiết bị âm thanh. Trong đầu những năm 1960, giáo sư tâm lý Patrick Suppes và Richard C. Atkinson đã thử nghiệm sử dụng máy tính để dạy toán và đọc sách cho con trẻ trong các trường tiểu học ở Đông Palo Alto, California. Chương trình giáo dục cho tài năng trẻ của Đại học Stanford được bắt nguồn từ những thí nghiệm ban đầu này.
Hệ thống E-learning ban đầu dựa trên việc học và đào tạo với máy tính trong đó vai trò của hệ thống E-learning chủ yếu dùng cho việc chuyển giao kiến thức, trái ngược với các hệ thống sau này là phát triển dựa trên việc hỗ trợ học tập, khuyến khích chia sẻ kiến thức. Năm 1963, Bernard Luskin cài đặt máy tính đầu tiên trong một trường cao đẳng cộng đồng để được hướng dẫn, làm việc với Đại học Stanford và những người khác, phát triển máy tính hướng dẫn hỗ trợ. Luskin hoàn thành luận án UCLA, bước ngoặc của ông là làm việc với tổng công ty Rand nhằm phân tích những trở ngại trong việc sử dụng sự trợ giúp, hướng dẫn của máy tính vào năm 5 1970. Năm 1972, Ray Tomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng.
Từ đó đến nay, E-mail là một trong những dich vụ trao đổi thông tin được sử dụng nhiều nhất. Học tập dựa trên máy tính đã hình thành nên những khóa học E-Learning đầu tiên và được phát triển bởi Murray Turoff và Starr Roxanne Hiltz trong thập niên 70 và thập niên 80 tại New Jersey. Năm 1976, Bernard Luskin đưa ra mô hình đại học không có trường (Coastline Community College), mô hình này xem kênh truyền hình như một chiếc xe di động. Tóm lại thời kì này máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy học sinh làm trung tâm” vẫn chưa được phổ biến nhất trong các trường học.
Giai đoạn từ năm 1984 đến năm 1993: Vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET. Đây là mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập. Giai đoạn này cũng có thể gọi là Kỷ nguyên đa phương tiện được đánh dấu bằng sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác. Những công cụ này cho phép tạo ra những bài giảng có tích hợp âm thanh và hình ảnh dựa trên công nghệ CBT (Computer Base Training).
Bài học được phân phối qua đĩa mềm đĩa CD-ROM. Vào bất kì thời gian nào, ở đâu, người học đều có thể mua được và tự học. Tuy nhiên, không có sự hổ trợ từ phía giáo viên. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1999: Người đầu tiên nghĩ ra chương trình giáo dục trực tuyến là ông William D.
Graziedei, một giáo sư sinh học của Collecge at Plattsburgh thuộc hệ thống đại học SUNY (State University New York), ông đã có một dự án năm 1993 với đề tài: Virtual Instructional Classroom Enviroment In Science (VICES). Tạm dịch: Môi trường dạy và học ảo trong khoa học. Trong năm 1993, Graziadei mô tả một máy tính trực tuyến - giao bài giảng, hướng dẫn và đánh giá dự án sử dụng thư điện tử. Năm 1994, các trường trung học trực tuyến đầu tiên đã được thành lập.
6 Năm 1994, chương trình giảng dạy CALCampus được trình bày trực tuyến đầu tiên như Internet ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn thông qua mạng lưới viễn thông. CALCampus là nơi mà khái niệm về trường học trực tuyến đầu tiên ra đời. Khi công nghệ web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này. Các chương trình: Email, Web, trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/Video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML, JAVA bắt đầu trở nên thông dụng và đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện.
Graziedei công bố một bài báo “Xây dựng hệ thống dạy và học đồng bộ và không đồng bộ: khai thác giải pháp hệ thống quản lý các lớp học và khoá học” miêu tả sự phát triển chiến lược tổng thể cho việc quản lý khoa học dựa trên công nghệ hệ thống giáo dục. Ông cho rằng các sản phẩm phải sử dụng, dễ duy trì và vận chuyển, dễ nhân rộng và giá cả phải chăng. Giai đoạn 2000 – đến nay: Với sự thay đổi mạnh mẽ của Internet, công nghệ đa phương tiện bắt đầu được giới thiệu trong chương trình mới. Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến.
Theo một nghiên cứu năm 2008 được tiến hành bởi Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ, trong năm học 2006-2007 khoảng 66% các trường công lập và tư nhân sau trung học bắt đầu cung cấp một số khoá học từ xa. Ở Châu Âu, Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-Learning của Châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Ngoài việc tích cực triển khai E-Learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên Châu Âu EuroPACE.
Đây là mạng E-Learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như 7 khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở Châu Âu. Trong năm 2008, Hội đồng châu Âu đã thông qua một tuyên bố ủng hộ của học tập điện tử tiềm năng cải thiện bình đẳng giáo dục trên toàn EU. Ở châu Á, việc ứng dụng e-Learning của các quốc gia đang phát triển vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng ở các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore … việc ứng dụng e-learning trong giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, ngoài việc ứng dụng trong giáo dục, e-learning tại các nước này công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp quan tâm xây dựng, đầu tư để đào tạo nhân viên. e-Learning được cho là một trong những công cụ mạnh mẽ để phục nhu cầu ngày càng tăng về giáo dục, giúp người học cải thiện, tiếp cận với các cơ hội giáo dục.2 Ở Việt Nam Việc ứng dụng E-learning tại Việt Nam được quan tâm rất muộn so với xu thế chung về ứng dụng công nghệ thông tin trên toàn thế giới.
Phần lớn các trường đại học Việt Nam hiện nay đang vận hành một cách riêng rẽ và ít có sự cạnh tranh do đặc thù là các trường vốn có truyền thống lâu đời là các trường đơn ngành. Hiện nay, với sự xuất hiện của các trường mới, đặc biệt là các trường quốc gia và trường vùng đa ngành, các trường dân lập, tình hình có khác hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng công nghiện thông tin vào xây dựng chương trình học cũng như giảng dạy của các trường còn rất nhiều hạn chế. Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về e- Learning ở Việt Nam không nhiều.
Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu e- learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn.