phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu Chƣơng 2: Mục tiêu, đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hiệu ứng nhà kính và ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nƣớc đang phát triển là sáng kiến toàn cầu đã đƣợc Hội nghị các nƣớc thành viên lần thứ 13 của Công ƣớc khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thƣ Kyoto thông qua tại Ba-li (Indonesia) năm 2007.
Hàng năm, lƣợng khí thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nƣớc đang phát triển chiếm khoảng 20% so với tổng lƣợng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sáng kiến REDD đƣợc hình thành từ ý tƣởng ban đầu là trả tiền cho các nƣớc đang phát triển để làm giảm phát thải khí CO2 từ ngành lâm nghiệp. Một vấn đề đặt ra là cần phải lƣợng hóa đƣợc các bon cơ sở, hiện đang đƣợc lƣu giữ trong các cánh rừng. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về tích lũy các bon trong các hệ sinh thái rừng ở trên Thế giới và Việt Nam. Các khí nhà kính nhƣ CO2, CH4, NOx, CFC… có vai trò nhƣ lớp kính bao quanh Trái Đất làm Trái Đất nóng dần lên, hiệu ứng nhà kính có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống Trái Đất.
Tuy nhiên, do hoạt động của con ngƣời khiến khí nhà kính ngày càng gia tăng gây ra hiện tƣợng biến đổi khí hậu vô cùng nghiêm trọng. Biến đổi khí hậu làm tổn hại lên tất cả các thành phần của môi trƣờng sống, gây tác động nhƣ nƣớc biển dâng cao, gia tăng hạn hán, ngập lụt, thay đổi các kiểu khí hậu, gia tăng các loại bệnh tật, thiếu hụt nguồn nƣớc ngọt, suy giảm đa dạng sinh học và gia tăng các hiện tƣợng khí hậu cực đoan. Năm 1958 các nhà khoa học ở Mauna Loa Observatory tại Hawai đã chứng minh đƣợc khí CO2 là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng nhiệt độ. Năm 1976, các khí metan, CFC, NOx cũng đƣợc xác minh là nguyên nhân gây nên hiện tƣợng hiệu ứng nhà kính [17].
Theo ƣớc tính của IPCC, CO2 chiếm tới 60% nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng 28% từ 288 ppm lên 366 ppm trong giai đoạn 1850-1998. Ở giai đoạn hiện nay, nồng độ khí CO2 tăng khoảng 10% trong chu kỳ 20 năm. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ quan Khí quyển và Đại dƣơng Mỹ cho biết trong năm 2015, tốc độ tăng trƣởng hàng năm của nồng độ CO2 trong khí quyền là 3,05 ppm, mức tăng hàng năm lớn nhất trong vòng 56 năm qua. Viện nghiên cứu Liên minh Trái Đất đã dự đoán có tới 1/10 khả năng nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng lên 60C vào năm 2100 nếu lƣợng khí thải không đƣợc cắt giảm [17].
Nếu nhiệt độ Trái Đất tăng từ 1,1 – 6,40C thì 30% loài động thực vật hiện nay sẽ có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050. Trong 50 năm trở lại đây, tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2-4 lần. Nhiều khả năng trong 40 năm tới, số lƣợng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần. Chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi [5].
Tại Việt Nam, theo kịch bản phát thải trung bình, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình sẽ tăng khoảng 2,30C, mực nƣớc biển dâng thêm 75 cm và lƣợng mƣa sẽ tăng khoảng 5% so với giai đoạn 1980-1990 [5]. Nhận thức đƣợc rằng sự thay đổi khí hậu đang thực sự xảy ra với một tốc độ nhanh chóng và hành động giảm thiểu cần phải đƣợc thực hiện, tại Hội nghị thƣợng đỉnh về Môi trƣờng và phát triển tại Brazin (1992), Công ƣớc khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu đã đƣợc ký kết. Tại hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 3 tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) tháng 12 năm 1997, Nghị định thƣ của Công ƣớc đã đƣợc thông qua gọi là Nghị định thƣ Kyoto và đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý mang tính toàn cầu cho các bƣớc khởi đầu nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hƣớng gia tăng phát thải khí nhà kính. Nghị định thƣ Kyoto cũng giới thiệu cơ chế phát triển sạch là một phƣơng thức hợp tác quốc tế mới trong lĩnh vực môi trƣờng giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa với mục tiêu cơ bản nhất là hƣớng tới phát triển bền vững bằng các cam kết cụ thể về hạn chế và giảm lƣợng khí nhà kính phát thải định lƣợng của các nƣớc trên phạm vi toàn cầu.
Chƣơng trình nghị sự của Công ƣớc khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc đƣa ra cơ chế giảm phát thải nhà kính do suy thoái rừng và mất rừng ở các nƣớc đang phát triển. Hội nghị các bên liên quan đƣa ra khái niệm mở “REDD+” đƣợc lồng ghép để tăng cƣờng trữ lƣợng các bon lâm nghiệp hiện có, trong kế hoạch Hành động Bali (Indonesia) tại COP 13 năm 2007. Chƣơng trình REDD+ bao gồm các hoạt động: Giảm phát thải từ mất rừng, giảm phát thải từ suy thoái rừng, bảo tồn các bể chứa các bon, quản lý rừng bền vững, gia tăng lƣợng các bon trong các bể chứa các bon rừng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo chƣơng trình REDD, các nƣớc sẽ đo đếm và giám sát lƣợng phát thải CO2 từ mất rừng và suy thoái rừng trong phạm vi biên giới nƣớc mình.
Sau một giai đoạn nhất định, các nƣớc sẽ tính toán lƣợng giảm phát thải và nhận đƣợc số lƣợng tín chỉ các bon rừng có thể trao đổi trên thị trƣờng dựa trên sự giảm thiểu này. Các tín chỉ sau đó có thể đƣợc đem bán trên thị trƣờng các bon toàn cầu. Trƣớc những tác động tiêu cực của sự gia tăng hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu, các quốc gia trên thế giới đã và đang tập trung tăng cƣờng các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính đặc biệt là khí CO2. Tại hội nghị biến đổi khí hậu quốc tế COP 21 tại Paris năm 2015, các quốc gia đã đi đến thỏa thuận chung.
Trong đó, có đƣa ra mục tiêu kiểm soát phát thải để sự gia tăng nhiệt độ của Trái Đất đến năm 2100 là thấp hơn đáng kể so với ngƣỡng 20C và cố gắng tiến tới ngƣỡng thấp hơn 1,50C. Với tầm quan trọng của các bể chứa các bon rừng đã có nhiều những tổ chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu về sinh khối cũng nhƣ trữ lƣợng các bon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng để đƣa ra các phƣơng pháp luận hay đề xuất các chính sách trong việc bảo vệ rừng. Hấp thụ CO2 từ rừng Theo dự đoán phát thải khí nhà kính đến năm 2030 thì phát thải khí nhà kính các ngành sản xuất gồm năng lƣợng và nông nghiệp đều tăng lên nhanh chóng, thậm chí đối với ngành năng lƣợng năm 2030 gấp hơn 14 lần so với năm 1993 (396,35 triệu tấn so với 27,5 triệu tấn). Chỉ duy nhất ngành lâm nghiệp đƣợc kỳ vọng sẽ tăng dần lƣợng hấp thụ các bon và lên đến khoảng 32,10 triệu tấn vào năm 2030.
Lƣợng hấp thụ này sẽ đóng góp vào việc giảm tổng phát thải của Việt Nam đồng thời là nguồn tiềm năng để tham gia CDM, REDD qua đó nhận đƣợc tín dụng từ các quốc gia phát triển [1]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dự đoán phát thải khí nhà kính tính tƣơng đƣơng CO2 đến năm 2030 (triệu tấn) Năm 1993 2000 2010 2020 2030 Ngành Năng lƣợng 27,5 44,48 103,40 187,82 396,35 Lâm nghiệp 29,88 4,20 -21,70 -28,40 -32,10 Nông nghiệp 46,6 52,50 57,20 64,70 68,29 Tổng 111,69 101,18 138,90 224,12 432,54 Nguồn: (Hydrometeorological Service of Vietnam, 1999) Tổng sinh khối của một lâm phần biến động mạnh và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khí hậu và thổ nhƣỡng. Sinh khối và các bon cũng bị ảnh hƣởng bởi độ tuổi của rừng và các cây trong rừng.
Đối với các rừng non, việc tích lũy các bon sẽ diễn ra liên tục thông qua việc sinh trƣởng của cây và rừng. Mối quan hệ giữa kích thƣớc cây và sinh khối của chúng không phải là quan hệ đƣờng thẳng. Điều này có nghĩa là khi đƣờng kính và chiều cao tăng lên, sinh khối của cây cũng tăng nhƣng với tỉ lệ hoàn toàn khác. Các bon trong sinh khối cây đều bắt nguồn từ CO2 trong không khí thông qua quá trình quang hợp và sinh trƣởng của cây.
Việc mất thảm thực vật che phủ, đốt rừng hoặc phân hủy gỗ sẽ làm các bon trở lại bầu không khí ở dạng CO2, hoặc khí metan (CH4) nếu cây bị phân hủy. Nhƣ vậy, rừng là kho chứa đựng các bon hấp thụ trong không khí. Một trong những chu trình luân chuyển sẽ làm các bon quay trở lại bầu khí quyển, nhƣng một phần sẽ đi vào chuỗi thức ăn hoặc đƣợc giữ lại trong đất. Sinh khối trong lâm phần bao gồm sinh khối trên mặt đất (sinh khối thân gỗ, sinh khối thảm tƣơi, cây bụi, sinh khối vật rơi rụng) và sinh khối dƣới mặt đất (sinh khối trong đất và sinh khối rễ) tƣơng ứng với nó sẽ có các bon tích lũy trên mặt đất và dƣới đất.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon rừng trên thế giới Theo FAO tổng diện tích rừng trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn cầu. Hàng năm trên toàn thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó có khoảng 0,4% là rừng nguyên sinh) và con số này vẫn chƣa có dấu hiệu giảm [17]. Phá rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho lƣợng CO2 tăng lên và là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu.
Ƣớc tính lƣợng các bon lƣu giữ trong sinh khối và đất gấp khoảng 3 lần lƣợng các bon có trong khí quyển. Khoảng 35% khí nhà kính trong khí quyển là hậu quả của nạn phá rừng trong quá khứ và 18% lƣợng khí này phát thải hàng năm là do nạn phá rừng [16]. Các bể chứa các bon chính trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dƣới tán và khối lƣợng vật liệu chết của vật rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất.