Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê toàn quốc từ Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động nữ chiếm 48,6% tổng số lao động xã hội với 73,2% phụ nữ từ 15 tuổi trở lên tích cực tham gia thị trường việc làm. Tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, phụ nữ chiếm hơn 51% dân số toàn huyện và đóng vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa gia tăng nhanh chóng đã khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi đáng kể, đặt ra sức ép giải quyết việc làm rất lớn cho hàng nghìn phụ nữ nông thôn khi phần lớn chưa qua đào tạo nghề chuyên sâu. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Mai Thị Quỳnh Anh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam tập trung giải quyết bài toán cấp bách về việc làm bền vững cho phụ nữ nông thôn trên địa bàn. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích toàn diện thực trạng tạo việc làm giai đoạn 2013-2015, xác định các rào cản ảnh hưởng, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tạo việc làm cho lao động nữ tại huyện Bình Lục. Phạm vi nghiên cứu khảo sát chuyên sâu tại 3 xã đại diện gồm Trung Lương, Hưng Công và An Lão trong giai đoạn từ tháng 5/2015 đến tháng 3/2016. Đóng góp nổi bật của đề tài là lượng hóa các chỉ tiêu thực tế với hơn 3.000 lao động được tạo việc làm mới hàng năm, chỉ rõ khoảng trống trong chất lượng việc làm nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và thúc đẩy bình đẳng giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết phân công lao động xã hội, lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và lý thuyết vốn con người của Gary Becker. Bên cạnh đó, đề tài vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và các quan điểm pháp lý quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động Việt Nam, xác định việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp, bảo đảm tính nhân văn và quyền bình đẳng giới. Khung phân tích tập trung vào ba khái niệm cốt lõi: tạo việc làm nông thôn theo chiều rộng và chiều sâu, năng lực lao động nữ bao gồm thể lực cùng trình độ chuyên môn kỹ thuật, và cơ chế hỗ trợ thể chế từ Đề án 295 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm. Ngoài ra, mô hình còn tiếp thu bài học kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản trong việc đưa nhà máy về nông thôn và Hàn Quốc với tỷ lệ việc làm nữ giới đạt 53,1% năm 2013 nhờ các chính sách giảm gánh nặng nuôi dạy con nhỏ, kết hợp bài học thực tế từ tỉnh Hưng Yên và Hải Dương về mục tiêu tạo việc làm mới cho trên 50% lao động nữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và tiếp cận theo nhóm đối tượng nhằm thu thập toàn diện thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước đến người thụ hưởng chính sách. Cỡ mẫu điều tra sơ cấp gồm 90 lao động nữ nông thôn và 26 cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp, trang trại được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 3 xã đại diện: Trung Lương (khu vực kết hợp công nghiệp và nông nghiệp), Hưng Công (vùng quy hoạch nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao) và An Lão (vùng tiểu thủ công nghiệp với làng nghề sừng mỹ nghệ Đô Hai). Việc lựa chọn 3 địa bàn này nhằm đảm bảo tính đại diện cho các hình thái kinh tế đặc thù của huyện Bình Lục. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Bình Lục và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2011-2015. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel thông qua phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức trong công tác giải quyết việc làm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nhu cầu học nghề nông nghiệp của lao động nữ vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành phi nông nghiệp. Kết quả khảo sát 90 phụ nữ tại 3 xã cho thấy 42,2% mong muốn học nghề nông nghiệp (tập trung cao nhất tại xã Hưng Công với 60%), trong khi 35,6% chọn công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (xã An Lão chiếm 43,3%) và 22,2% lựa chọn ngành dịch vụ.

Thứ hai, về cấp độ đào tạo, phần lớn lao động nữ lựa chọn học nghề ngắn hạn dưới 3 tháng (chiếm 46,2%) và trình độ sơ cấp (39,2%), trong khi nhu cầu học trung cấp chỉ đạt 12,1% và cao đẳng chỉ chiếm 2,5%. Đáng chú ý, 46,7% phụ nữ ưu tiên hình thức kèm cặp truyền nghề và 41,1% chọn bồi dưỡng cập nhật kỹ năng tại chỗ thay vì học chính quy dài hạn.

Thứ ba, người lao động có xu hướng gắn liền với địa bàn cư trú khi 96% người được hỏi chỉ muốn học nghề trong phạm vi tỉnh Hà Nam và 99% tại các điểm khảo sát mong muốn học ngay tại địa bàn xã. Về phương pháp đào tạo, có đến 67,4% lao động nữ chọn phương thức vừa học vừa làm để duy trì sinh hoạt gia đình, chỉ có 23,8% chọn phương pháp học tập trung.

Thứ tư, kết quả thực thi chính sách cho thấy năm 2015 toàn huyện Bình Lục đã giải quyết việc làm mới cho hơn 3.000 người, trong đó xuất khẩu lao động đạt 100 người, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 728,1 tỷ đồng, tăng 22,1% so với năm 2014.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc lao động nữ ưu tiên các lớp đào tạo ngắn hạn và học tại xã bắt nguồn từ rào cản kép về vai trò giới và tài chính. Kết quả khảo sát chỉ ra có 32,8% phụ nữ ngại đi học xa nhà, gần 30% vướng bận trách nhiệm chăm sóc con nhỏ, gia đình và gần 30% gặp khó khăn về tài chính trang trải chi phí học tập. Khi trực quan hóa dữ liệu qua các biểu đồ phân bố và bảng so sánh cơ cấu ngành, có thể thấy rõ nét tính đặc thù theo vùng: xã Hưng Công có nhu cầu vượt trội về kỹ thuật trồng trọt công nghệ cao, trong khi xã An Lão gắn chặt với nghề thủ công truyền thống. So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại vùng đồng bằng sông Hồng, công tác tạo việc làm tại Bình Lục mới chủ yếu tập trung theo chiều rộng về số lượng mà chưa đi sâu vào nâng cao chất lượng việc làm bền vững. Mức thu nhập bình quân đầu người của huyện năm 2015 đạt 28,1 triệu đồng/năm, tuy tăng 10,1% so với năm trước nhưng thu nhập thực tế của lao động nữ trong khu vực phi chính thức vẫn bấp bênh và thiếu các cam kết bảo hiểm xã hội dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tạo việc làm cho lao động nữ nông thôn tại huyện Bình Lục, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đổi mới mạng lưới đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu thực tiễn của thị trường. Ủy ban nhân dân huyện Bình Lục cùng Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp cần đa dạng hóa các lớp dạy nghề ngắn hạn dưới 3 tháng theo phương thức lưu động tại từng thôn xã, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 45% vào năm 2020. Tập trung chuyển giao kỹ thuật cho vùng sản xuất lúa, rau củ quả công nghệ cao tại xã Hưng Công và phát triển nghề truyền thống tại xã An Lão.

Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi giải quyết việc làm. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ đẩy mạnh giải ngân vốn vay từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ kinh phí học nghề cho hơn 50% lao động nữ nghèo và tạo điều kiện nhân rộng mô hình chăn nuôi đệm lót sinh học, phát triển kinh tế hộ.

Thứ ba, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nhiều lao động nữ. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cần tham mưu chính sách ưu đãi mặt bằng và hạ tầng để thu hút các doanh nghiệp may mặc, chế biến nông sản tại các cụm công nghiệp, tạo thêm ít nhất 1.200 việc làm mới mỗi năm.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tư vấn, định hướng xuất khẩu lao động có tay nghề. Các cơ quan chức năng cần phối hợp cung cấp thông tin thị trường minh bạch, hỗ trợ vay vốn ưu đãi ban đầu, phấn đấu đưa từ 150 đến 200 lao động đi làm việc ở nước ngoài mỗi năm giai đoạn 2016-2020.

Thứ năm, hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và dịch vụ công nông thôn. Chính quyền cấp xã cần đầu tư các điểm trông giữ trẻ cộng đồng nhằm giảm bớt gánh nặng gia đình cho phụ nữ, đồng thời tăng cường thanh tra việc thực hiện hợp đồng và bảo hộ lao động tại các cơ sở tư nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và cơ sở dữ liệu hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã và cán bộ ngành Lao động - Thương binh và Xã hội có thể sử dụng số liệu thực chứng của luận văn để xây dựng kế hoạch đào tạo nghề nông thôn theo Quyết định 1956 và Đề án 295 sát hợp với thực tế địa bàn.

Nhóm cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Cán bộ Hội có thêm tài liệu tham khảo để thiết kế các chương trình hỗ trợ vốn vay tín dụng, mở các lớp truyền nghề tại chỗ và triển khai hiệu quả các phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình.

Nhóm các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Luận văn cung cấp khung lý thuyết chuẩn tắc, bộ công cụ khảo sát định lượng chi tiết và các phân tích thực nghiệm về thị trường lao động nông nghiệp trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhóm chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và trang trại: Các nhà tuyển dụng tại địa phương có thêm góc nhìn về tâm lý, nguyện vọng và đặc điểm năng lực của lao động nữ nông thôn, từ đó xây dựng chính sách tiền lương, ca kíp linh hoạt và môi trường làm việc phù hợp nhằm thu hút nhân lực ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lao động nữ nông thôn tại Bình Lục lại ưu tiên học nghề ngắn hạn dưới 3 tháng thay vì học trung cấp hay cao đẳng? Phần lớn lao động nữ đã có gia đình và con nhỏ, chịu gánh nặng nội trợ nên không thể tham gia các khóa đào tạo dài hạn xa nhà. Khóa học ngắn hạn dưới 3 tháng (chiếm 46,2% nhu cầu) không đòi hỏi bằng cấp đầu vào, miễn học phí, thời gian học linh hoạt và giúp người học nhanh chóng áp dụng kiến thức vào thực tế sản xuất để tạo thu nhập ngay.

Cơ cấu kinh tế của huyện Bình Lục ảnh hưởng như thế nào đến việc làm của phụ nữ nông thôn? Năm 2015, cơ cấu kinh tế huyện gồm Nông nghiệp 34,7%, Công nghiệp - xây dựng 32,5% và Dịch vụ 32,8%. Việc chuyển dịch đất đai phục vụ các cụm công nghiệp làm thu hẹp diện tích canh tác, buộc phụ nữ nông thôn phải chuyển dần từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang làm việc tại các xưởng may mặc, tiểu thủ công nghiệp hoặc tự tạo việc làm dịch vụ.

Những rào cản lớn nhất ngăn cản phụ nữ nông thôn tiếp cận các cơ hội việc làm mới là gì? Ba rào cản lớn nhất gồm: tâm lý e ngại đi làm và học nghề xa nhà (32,8%), trách nhiệm chăm sóc gia đình con cái (gần 30%), và điều kiện kinh tế khó khăn thiếu vốn sản xuất ban đầu (gần 30%). Bên cạnh đó, hạn chế về trình độ học vấn cũng cản trở khả năng tiếp cận các công việc có hàm lượng kỹ thuật cao.

Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng hiệu quả cho huyện Bình Lục? Mô hình của Nhật Bản về việc phân bổ cơ sở sản xuất về tận các vùng nông thôn và giải pháp của Hàn Quốc trong việc xây dựng hệ thống nhà trẻ công, áp dụng chế độ làm việc bán thời gian linh hoạt là những bài học giá trị giúp phụ nữ Bình Lục cân bằng giữa công việc và gia đình.

Chính quyền địa phương cần làm gì để nâng cao chất lượng tạo việc làm thay vì chỉ chú trọng số lượng? Chính quyền cần gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề với đơn đặt hàng tuyển dụng của doanh nghiệp, đẩy mạnh hỗ trợ vốn và khoa học kỹ thuật cho nông nghiệp công nghệ cao, đồng thời tăng cường thanh tra việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, tiền lương tại các cơ sở kinh tế tư nhân.

Kết luận

Nghiên cứu đã phác thảo bức tranh toàn diện về thực trạng tạo việc làm cho lao động nữ tại huyện Bình Lục với các điểm mấu chốt sau:

  • Phụ nữ chiếm hơn 51% dân số huyện, là lực lượng sản xuất quan trọng nhưng đang chịu áp lực việc làm rất lớn do diện tích đất canh tác sụt giảm.
  • Nhu cầu đào tạo nghề tập trung chủ yếu vào nông nghiệp (42,2%) và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (35,6%) với phương thức vừa học vừa làm tại xã (99%).
  • Năm 2015 địa phương đã giải quyết việc làm mới cho hơn 3.000 lao động nhưng chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chất lượng việc làm chưa thật sự bền vững.
  • Rào cản việc làm xuất phát từ trình độ chuyên môn, gánh nặng gia đình và khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ưu đãi.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp đồng bộ gồm đổi mới đào tạo nghề, mở rộng tín dụng, thu hút doanh nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu lao động và hoàn thiện an sinh xã hội.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ công tác quy hoạch phát triển nhân lực nữ của huyện Bình Lục đến năm 2020. Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức đoàn thể và cơ sở đào tạo cần tham khảo, phối hợp triển khai đồng bộ các khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc làm bền vững và bình đẳng giới tại địa phương.