phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, đƣợc bố cục thành 3 phần nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Nội dung, phạm vi nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng bền vững tại huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ĐẤT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤT TRONG NÔNG NGHIỆP Nhà nông học ngƣời Anh V.William (1991) đã đƣa ra khái niệm: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm của cây”. Theo FAO (1990) cho rằng: „‟Đất là một tài nguyên thiên nhiên chủ yếu, không chỉ cho sự tồn tại và phát triển của con ngƣời mà còn duy trì sự sống của động, thực vật ở trên bề mặt trái đất‟‟.
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, theo Đào Thu Châu và Nguyên Khang (1989) nhận định đất đai đƣợc nhìn nhận là một nhân tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai bao gồm: Khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhƣỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, đất tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con ngƣời. Theo quan điểm của các nhà thổ nhƣỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc đƣợc” và đất đai đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của sinh thái ngay trên và dƣới bề mặt bao gồm: Khí hậu, thời tiết, thổ nhƣỡng, địa hình, mặt nƣơc, các lớ trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại”. Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất đƣợc sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.
Khi nói đất nông nghiệp ngƣời ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trƣờng hợp đất đai đƣợc sử dụng vào mục đích khác nhau của ngành. Trong trƣờng hợp đó đất đai đƣợc sử dụng chủ yếu vào sản xuất nghiệp mới đƣợc coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính). Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế ngƣời ta co đất đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu tƣ lớn nào cả. Vì vậy, theo Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam, 2013 (2013, tr 20-21) nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghệp, lâm nghiệp, chăn nuôi thủy sản, làm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”.
Dựa vào mục đích sử dụng, Luật đất đai năm 2013 phân loại đất đai thành 3 nhóm chính: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chƣa sử dụng. Đất nông nghiệp là đất đƣợc xác định chủ yếu sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhƣ đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp. Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội.
Nhận thức đúng các đặc trƣng riêng của đất sẽ giúp nhà quản lý và ngƣời sử dụng đất có các định hƣớng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất, đồng thời không ngừng cải tạo, bảo vệ đất và môi trƣờng sinh thái. Nhƣng trong thực tế, theo báo cáo của World bank [53], hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lƣơng thực của thế giới vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có từ 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang.200 triệu ha đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý. Theo kết quả nghiên cứu của Chƣơng trình môi trƣờng Liên hiệp quốc và Trung tâm Thông tin Đất quốc tế, trong 13.340 triệu ha đất của lục địa đã có 2.000 triệu ha bị thoái hóa, tập trung nhiều ở Châu Á và Châu Phi với 1.240 triệu ha chiếm 62%, trong đó đất thoái hóa nặng là 1.100 triệu ha, đất thoái hóa trung bình là 900 triệu ha. Dự báo trong vòng 20 năm nữa diện tích đất bị thoái hóa mạnh sẽ tăng thêm 140 triệu ha.
Diện tích đất nông nghiệp của thế giới bị thoái hóa 562 triệu ha, đất đồng cỏ thoái hóa 685 triệu ha, đất rừng thoái hóa 719 triệu ha. Phân hóa đất nông nghiệp bị thoái hóa theo các khu vực nhƣ sau: Châu Phi 121 triệu ha, Châu Á 214 triệu ha, Nam Mỹ 64 triệu ha, Trung Mỹ 28 triệu ha, Bắc Mỹ 63 triệu ha, Châu Âu 72 triệu ha. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất đồng cỏ bị thoái hóa ở các khu vực: Nam Phi 243 triệu ha, Châu Á 281 triệu ha, Nam Mỹ 68 triệu ha, Trung Mỹ 10 triệu ha, Bắc Mỹ 29 triệu ha, Châu Âu 54 triệu ha. Đất rừng bị thoái hóa phân bố nhƣ sau: Châu Phi 130 triệu ha, Châu Á Thái Bình Dƣơng 356 triệu ha, Nam Mỹ 112 triệu ha, Trung Mỹ 25 triệu ha, Bắc Mỹ 4 triệu ha, Châu Âu 92 triệu ha.
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SỬ DỤNG ĐẤT 1. Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái * Hệ sinh thái bao gồm hai thành phần chủ yếu: - Các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan hệ dinh dƣỡng và vị trí của chúng. - Các nhân tố ngoại cảnh: khí hậu, đất, nƣớc. Theo chức năng, hoạt động của hệ sinh thái đƣợc phân theo dòng năng lƣợng, chuỗi thức ăn, sự phân bố không gian và thời gian tuần hoàn vật chất, phát triển, tiến hoá và điều khiển.
* Hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống với các hệ thống phụ nhƣ đồng ruộng trồng cây hàng năm, vƣờn cây lâu năm, đồng cỏ chăn nuôi, ao hồ thả cá, các khu dân cƣ, trong đó hệ sinh thái đồng ruộng là thành phần trung tâm quan trọng nhất trong hệ thống sinh thái nông nghiệp. Hệ sinh thái nông nghiệp là các vùng sản xuất nông nghiệp, cũng có thể là một cơ sở sản xuất nông nghiệp nhƣ nông trƣờng, hợp tác xã nông nghiệp. Một trong những đặc điểm cơ bản của đất đai là tính cố định về mặt địa lý, không gian. Do đó, mỗi loại đất ở những vị trí khác nhau có điều kiện sinh thái khác nhau.
Để sản xuất mang lại hiệu quả cao nhất, đồng thời duy trì và cải thiện đƣợc môi trƣờng, gắn liền với phát triển bền vững thì phải đánh gía đƣợc tiềm năng sử dụng đất của từng vùng sinh thái nông nghiệp. Từ đó làm cơ sở phân vùng sinh thái nông nghiệp, làm tiền đề cho việc bố trí sử dụng đất hợp lý. Quan điểm sử dụng đất hiệu quả Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá và có hạn, việc sử dụng đất vào các mục đích cụ thể, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp cần phát huy đƣợc tiềm năng đất đai, tránh tình trạng sử dụng đất bừa bãi, không phù hợp với tiềm năng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vốn có của đất đai dẫn đến lãng phí, thiếu hiệu quả. Sử dụng đất hiệu quả với quan điểm: - Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động, để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hƣớng tới xuất xuất khẩu.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hóa” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái bảo vệ môi trƣờng. - Trên quan điểm phát triển hệ thống, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng tập trung chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa theo hƣớng ngành hàng, nhóm sảm phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục. - Nâng cao hiệu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc. - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tích tụ ruộng đất.
Trong quá trình nghiên cứu về hiệu quả, do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nên có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả. Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả cũng nhƣ yêu cầu của việc làm đem lại. Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất. Kết quả ở đây đƣợc hiểu là kết quả hữu ích, là một đại lƣợng vật chất tạo ra do mục đích của con ngƣời, đƣợc hiểu bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con ngƣời mà ta phải xem xét kết quả đó đƣợc tạo ra nhƣ thế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đƣa lại kết quả hữu ích hay không.
Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lƣợng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó. Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ đƣợc môi trƣờng.