PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Là một nước nông nghiệp, Việt Nam đang xuất khẩu rau quả đi nhiều nước trên thế giới, nhưng nghịch lý là hơn 90 triệu người dân tại Việt Nam lại đang phải vật lộn với cuộc chiến rau, quả sạch để có được bữa ăn sạch hàng ngày cho chính gia đình mình. Hơn bao giờ hết, vấn đề rau an toàn hiện đang được xã hội quan tâm số một khi thực trạng rau, củ nhiễm hóa chất độc hại vượt ngưỡng cho phép đang diễn ra ngày một phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Với tình trạng đáng báo động về An toàn thực phẩm (ATTP) hiện nay, nhu cầu mua và sử dụng thực phẩm an toàn là rất lớn. Đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm rất lớn của nhà nước, các cấp các ngành và của toàn xã hội. Đã có nhiều chương trình, dự án, đề án tập trung nghiên cứu, tìm giải pháp cho việc xây dựng các chuỗi hay các hình thức liên kết trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn, thúc đẩy áp dụng các tiêu chuẩn, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, các mô hình quản lý chất lượng hiện đại nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm cũng như thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và cả tiêu thụ thực phẩm an toàn ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo ước tính, lượng thực phẩm được sản xuất và kinh doanh theo những mô hình này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu rất lớn về tiêu thụ thực phẩm an toàn ở Việt Nam.
Thị trường cho sản phẩm an toàn không phải là vấn đề đáng lo ngại. Nhưng thực tế cho thấy, những mô hình sản xuất hoặc liên kết sản xuất, kinh doanh (chuỗi) thực phẩm an toàn đều gặp rất nhiều khó khăn trong cả khâu sản xuất cung ứng và tiêu thụ. Trong khâu sản xuất và cung ứng, một trong những điểm yếu nhất của nông nghiệp Việt Nam là sản xuất quy mô nhỏ, manh mún và không đảm ATTP. Vậy làm thế nào để những nông hộ quy mô nhỏ có thể tiếp cận với quy trình sản xuất an toàn và bền vững là câu hỏi không hề dễ dàng.
Với đại bộ phận những hộ sản xuất quy mô nhỏ, rất khó để có thể tiếp cận với những tiêu chuẩn, kỹ thuật sản xuất và quản lý chất lượng tiên tiến. Để được cấp giấy chững nhận hay chứng chỉ về an toàn, chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 lượng cho sản phẩm đầu ra (chẳng hạn như tiêu chuẩn VietGAP) cũng tốn rất nhiều chi phí. Trong khâu tiêu thụ, người tiêu dùng thực sự có nhu cầu mua và tiêu dùng thực phẩm an toàn nhưng đứng trước tình trạng thiếu thông tin và không minh bạch về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm, về nhà phân phối, tình trạng thực phẩm không an toàn hoặc không được kiểm tra, chứng nhận vẫn được bày bán lẫn hoặc gắn mác thực phẩm an toàn khiến người tiêu dùng mất lòng tin. Có thể nói, để giải bài toán đầu ra cho thực phẩm an toàn và với điều kiện sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún ở Việt Nam, cần giải quyết hai vấn đề lớn là chi phí quản lý, chứng nhận và lòng tin của người tiêu dùng.
Muốn giải quyết được điều đó, cần có một mô hình có thể liên kết được các tác nhân trong chuỗi sản xuất, kinh doanh cùng các bên liên quan, trong đó có người tiêu dùng nhằm thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ với chất lượng sản phẩm đồng thời tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, minh bạch thông tin và thiết lập niềm tin với sản phẩm. Năm 2004 Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) đã đưa ra hệ thống chứng nhận tin cậy cho sản phẩm được sản xuất hữu cơ hay là hệ thống đảm bảo cùng tham gia- PGS (Participatory Guarantee System). Đó là hệ thống bảo đảm dựa vào sự tham gia của các tổ chức và con người có liên quan trực tiếp vào chuỗi cung cấp hữu cơ, từ người sản xuất cho đến người mua cùng nhau tham gia vào hệ thống chứng nhận. Tính đến nay, PGS đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Brazil…nhưng ở Việt Nam nó chỉ mới xuất hiện từ năm 2008.
Vì vậy, PGS còn là một khái niệm mới mẻ với người tiêu dùng cũng như là một mô hình mới trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn ở Việt Nam. PGS là một dạng hệ thống quản lý chất lượng dựa trên tiêu chuẩn, áp dụng trong sản xuất và kinh doanh nông sản thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ, đảm bảo sự an toàn và chất lượng sản phẩm. Đây cũng là mô hình mới về hệ thống đảm bảo chất lượng với tính ưu việt nổi trội là quản lý chất lượng tập trung chủ yếu tại cộng đồng, đòi hỏi sự tham gia giám sát của tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng (hộ trồng trọt/chăn nuôi, nhà sản xuất, chế biến, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 hàng,…) và các bên quan tâm. Chính sự vận hành theo cơ chế này sẽ gia tăng sự giám sát và thúc đẩy niềm tin của các thành viên trong chuỗi, đặc biệt là của khách hàng với các sản phẩm của chuỗi.
Khác với các mô hình quản lý chất lượng khác, mô hình PGS là mô hình đảm bảo chất lượng vừa mang tính khoa học, vừa mang tính hiện đại, vận hành theo cơ chế chuỗi với các bên liên quan nhưng lại đặc biệt có sự phù hợp cao với điều kiện sản xuất và kinh doanh nông sản, thực phẩm ở Việt Nam như sản xuất quy mô nhỏ, kênh hàng ngắn, chi phí thấp. (Ban điều phối PGS Việt Nam) Từ những lý do nêu trên, học viên lựa chọn đề tài: “Đánh giá tính bền vững của mô hình sản xuất rau hữu cơ áp dụng hệ thống đảm bảo có sự tham gia (PGS) tại xã Thanh Xuân- huyện Sóc Sơn- Hà Nội” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Khoa học bền vững. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu đánh giá hệ thống quản lý chất lượng sản xuất rau hữu cơ chứng nhận Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) đang được áp dụng để quản lý chất lượng rau hữu cơ tại xã Thanh Xuân- Sóc Sơn- Hà Nội nhằm đảm bảo tính bền vững của hệ thống sản xuất rau hữu cơ khi có sự tham gia của người dân và các tổ chức liên quan.
Mục tiêu cụ thể: - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của mô hình mô hình đảm bảo có sự tham gia PGS. - Nghiên cứu việc áp dụng và thực trạng áp dụng mô hình PGS trong sản xuất và cung ứng thực phẩm hữu cơ tại vùng rau Thanh Xuân- Sóc Sơn- Hà Nội - Củng cố luận điểm Hệ thống đảm bảo có sự tham gia (PGS) góp phần đảm bảo tính bền vững của hệ thống sản xuất rau hữu cơ vùng ven đô Hà Nội, là cơ sở khuyến nghị đề xuất mở rộng hệ thống này cho các vùng rau an toàn và hữu cơ khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dự kiến đóng góp của đề tài Là một đề tài luận văn Thạc sỹ thực hiện trong phạm vi thời gian ngắn và năng lực cũng như hiểu biết còn hạn chế trong lĩnh vực “Khoa học bền vững” nên học viên chỉ mong muốn đóng góp 1 phần nhỏ trong việc đánh giá tính bền vững của mô hình sản xuất rau hữu cơ áp dụng hệ thống đảm bảo có sự tham gia (PGS) tại xã Thanh Xuân- huyện Sóc Sơn- Hà Nội.
Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị, nhân rộng giải pháp từ kết quả nghiên cứu này ra các vùng trồng rau hữu cơ khác trên cả nước. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 4. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu đánh giá hệ thống quản lý chất lượng sản xuất rau hữu cơ chứng nhận Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) đang được áp dụng để quản lý chất lượng rau hữu cơ tại xã Thanh Xuân- Sóc Sơn- Hà Nội nhằm đảm bảo tính bền vững của hệ thống sản xuất rau hữu cơ khi có sự tham gia của người dân và các tổ chức liên quan. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của mô hình mô hình đảm bảo có sự tham gia PGS.
- Nghiên cứu việc áp dụng và thực trạng áp dụng mô hình PGS trong sản xuất và cung ứng thực phẩm hữu cơ tại vùng rau Thanh Xuân- Sóc Sơn- Hà Nội - Củng cố luận điểm Hệ thống đảm bảo có sự tham gia (PGS) góp phần đảm bảo tính bền vững của hệ thống sản xuất rau hữu cơ vùng ven đô Hà Nội, là cơ sở khuyến nghị đề xuất mở rộng hệ thống này cho các vùng rau an toàn và hữu cơ khác. Câu hỏi nghiên cứu. Tính bền vững của mô hình gồm những yếu tố nào? 2. Yếu tố nào bền vững hay chưa bền vững? 3.
Giải pháp để tăng cường tính bền vững của mô hình là gì? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm công cụ 1. Hữu cơ: Được sản xuất bằng các phương pháp quản lý sản xuất đặc biệt trong đó có chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và đất; Không được phép sử dụng các hóa chất hóa học tổng hợp (kể cả thuốc trừ sâu và phân bón hóa học) (trừ những chất cho phép được liệt kê trong phụ lục 1 của tiêu chuẩn). Nông nghiệp hữu cơ: Là hệ thống đồng bộ hướng tới việc thực hiện các quá trình sản xuất với kết quả là bảo đảm hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, chất lượng tốt, chăm sóc chu đáo động vật và công bằng xã hội; Là hệ thống sản xuất không sử dụng hoặc loại trừ các chất hóa học tổng hợp trong các vật tư đầu vào, tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín vật chất trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng các vật tư được quy định trong tiêu chuẩn này.
Phát triển bền vững: Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".